(Trích trong ‘Manna’ – Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ.)
Suy Niệm
Trong ngày lễ kính thánh Phêrô và thánh Phaolô,
chúng ta được mời gọi chiêm ngắm hai khuôn mặt, rất khác nhau mà cũng rất giống nhau.
Phêrô, một người đánh cá ít học, đã lập gia đình.
Ông theo Thầy Giêsu ngay từ buổi đầu sứ vụ.
Còn Phaolô là người có nhiều điều để tự hào, về gia thế, về học thức, về đời sống đạo hạnh.
Ông chưa hề gặp mặt Đức Giêsu khi Ngài còn sống.
Nhưng hai ông có nhiều nét tương đồng.
Cả hai đều được Đức Giêsu gọi.
Phêrô được gọi khi ông đang thả lưới bắt cá nuôi vợ con.
Phaolô được gọi khi ông hung hăng tiến vào Đamát.
Cả hai đã từ bỏ tất cả để theo Ngài.
Tất cả của Phêrô là gia đình và nghề nghiệp.
Tất cả của Phaolô là những gì ông cậy dựa vênh vang.
Bỏ tất cả là chấp nhận bấp bênh, tay trắng.
Cả hai đều đã từng có lần vấp ngã.
Vấp ngã bất ngờ sau khi theo Thầy như Phêrô,
trong một phút giây quá tự tin vào sức mình.
Ngã ngựa bất ngờ và trở nên mù lòa như Phaolô,
trong lúc tưởng mình sáng mắt và đi đúng hướng.
Vấp ngã nào cũng đau và in một dấu không phai.
Vấp ngã bẻ lái đưa con người đi vào hướng mới.
Phêrô và Phaolô đều yêu Đức Giêsu cách nồng nhiệt,
vì họ cảm nhận sâu xa mình được Ngài yêu.
“Này anh Simon, anh có mến Thầy không?
Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy.” (Ga 21,16)
Cả Phaolô cũng yêu Đấng ông chưa hề chung sống,
vì Ngài là “Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi.” (Gl 2, 20).
Phaolô đã không ngần ngại khẳng định:
Không gì có thể tách được chúng ta ra khỏi Tình Yêu của Đức Kitô (x. Rm 8, 35.39)
Tình yêu Đức Kitô là linh hồn của đời truyền giáo,
vì nói cho cùng truyền giáo chính là giúp người khác nhận ra và yêu mến
Đấng đã yêu tôi và yêu cả nhân loại.
Cả hai vị tông đồ đều hăng say rao giảng,
bất chấp muôn vàn nguy hiểm khổ đau.
Phêrô đã từng chịu đòn vọt ngục tù (x. Cv 5,40).
Còn nỗi đau của Phaolô thì không sao kể xiết (x. 2C 11, 23-28).
“Tôi mang trên mình tôi những thương tích của Đức Giêsu” (Gl 6, 1-7)
Cả hai vị đã chết như Thầy. Phêrô bị dẫn đến nơi ông chẳng muốn (x. Ga 21, 18).
Phaolô đã chiến đấu anh dũng cho đến cùng, và đã đổ máu ra làm lễ tế (x. 2Tm 4, 6).
Hội Thánh hôm nay vẫn cần những Phêrô và Phaolô mới,
dám bỏ, dám theo và dám yêu dám sống và dám chết cho Đức Kitô và Tin Mừng.
Hội Thánh vẫn cần những chiếc cột và những tảng đá.
Gợi Ý Chia Sẻ
Bạn biết gì về thánh Phêrô và thánh Phaolô? Có nét nào nơi hai vị thánh làm bạn ưa thích?
Bạn nghĩ gì về Đức Thánh Cha? Bạn biết gì về những hoạt động của Ngài cho giới trẻ?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa, chúng con không hiểu tại sao Chúa chọn Simon,
một người đánh cá ít học và đã lập gia đình, để làm vị Giáo Hoàng đầu tiên của Giáo Hội.
Chúa xây dựng Giáo Hội trên một tảng đá mong manh,
để ai nấy ngất ngây trước quyền năng của Chúa.
Hôm nay Chúa cũng gọi chúng con theo Chúa, sống cho Chúa,
đặt Chúa lên trên mọi sự: gia đình, sự nghiệp, người yêu.
Chúng con chẳng thể nào từ chối viện cớ mình kém đức kém tài.
Chúa đưa chúng con đi xa hơn, đến những nơi bất ngờ, vì Chúa cần chúng con ở đó.
Xin cho chúng con một chút liều lĩnh của Simon,
bỏ mái nhà êm ấm để lên đường, hạnh phúc vì biết mình đang đi sau Chúa. Amen.
(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ.)
Suy niệm:
Câu chuyện của bài Tin Mừng hôm nay diễn ra bên bờ hồ, một cái hồ mang nhiều tên gọi: hồ Galilê, hồ Hennêxarét, hồ Tibêriát.
Cái hồ quen thuộc đầy ắp kỷ niệm giữa Thầy và trò. Nơi đây tiếng gọi đầu tiên của Thầy Giêsu đã vang lên:
Hãy theo Thầy. Tiếng ấy đã khiến họ từ bỏ nghề sông nước để lên bờ, đi theo ông thợ mộc làng Nazareth.
Bao lần Thầy trò đi qua cái hồ rộng như biển này. Sóng gió họ cũng đã gặp, vui buồn họ cũng đã từng.
Sáng sớm hôm nay, trên hồ này họ đánh được mẻ cá lớn, nhờ một người lạ đứng trên bờ mà họ từ từ nhận ra là Thầy của mình.
Bữa ăn sáng do Thầy chuẩn bị thật chu đáo. Có bánh và cá, có cả đống than hồng hong ấm tình Thầy trò.
Ngọn lửa này gợi nhớ đến đống than hồng ở dinh Thượng tế, nơi Phêrô đã đứng sưởi và đã chối Thầy. (Ga 18, 18. 25)
Bây giờ, cũng bên đống than hồng, Thầy Giêsu cho Phêrô có cơ hội công khai bày tỏ tình yêu của mình.
“Anh có yêu mến Thầy không?” Ba lần Thầy Giêsu hỏi Phêrô như thế. “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy.”
Ba lần Phêrô trả lời như thế. Ba lần chối Thầy như được xóa đi bởi ba lần tuyên xưng tình yêu.
Nhưng bây giờ Phêrô khiêm tốn, biết tình yêu của mình mong manh, dễ vỡ. “Hãy chăn dắt chiên của Thầy”
Ba lần Thầy Giêsu đã nói như thế. Tình yêu dẫn đến sứ mạng chăn dắt đoàn chiên mà Thầy quý chuộng.
Phải yêu Thầy thì mới yêu chiên của Thầy. Yêu Thầy là điều kiện để được Thầy trao sứ mạng mục tử.
Làm mục tử là tiếp nối công việc của Thầy Giêsu, Mục tử nhân hậu,
nên cũng phải sẵn sàng chấp nhận cái chết như Thầy, (cc. 18-19) chết cho đoàn chiên, chết để tôn vinh Thiên Chúa. (c. 19)
“Hãy theo Thầy!” lời mời năm xưa cũng là lời mời được lặp lại bây giờ.
“Hãy theo Thầy!” sau những vấp ngã, yếu đuối và chối Thầy.
“Hãy theo Thầy!” sau khi những giấc mơ trần tục bị tan vỡ bởi biến cố Núi Sọ.
“Hãy theo Thầy!” sau những hăng hái nồng nhiệt thuở ban đầu.
“Hãy theo Thầy!” để giang tay ra và đến nơi mình không muốn đến.
“Hãy theo Thầy!” để củng cố anh em và chăn dắt chiên của Thầy. (Lc 22, 31-32)
Hôm nay Chúa Giêsu Phục sinh cũng hỏi từng Kitô hữu: “Con có mến Thầy không?”
Và Ngài chờ một câu trả lời trước khi trao sứ mạng, vì ai trong chúng ta cũng có sứ mạng chăm sóc một nhóm người nào đó.
Xin ơn yêu Giêsu bằng tình yêu thiết thân riêng tư. Xin ơn theo Ngài vì nghe thấy lời mời gọi vang lên mỗi ngày: “Hãy theo Thầy.”
Và xin ơn dám sống hết mình cho những người được Chúa trao phó.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, xưa Chúa đã sai các môn đệ ra khơi thả lưới, nay Chúa cũng sai chúng con đi vào cuộc đời.
Chúng con phải đối diện với bao thách đố của cuộc sống, của công ăn việc làm, của gánh nặng gia đình, của nghề nghiệp chuyên môn.
Xin đừng để chúng con sa vào cạm bẫy của vật chất và quyền lực, nhưng cho chúng con giữ nguyên lý tưởng thuở ban đầu, lý tưởng phục vụ quê hương và Hội Thánh.
Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con sống thực tế, nhưng không thực dụng; biết xoay xở nhưng không mưu mô; lo cho tương lai cá nhân, nhưng không quên bao người bất hạnh cần nâng đỡ.
Giữa cơn lốc của trách nhiệm và công việc, giữa những xâu xé trước bao lựa chọn,
xin cho chúng con biết tìm những phút giây trầm lắng, để múc lấy ánh sáng và sức mạnh, để mình được thật là mình trước mặt Chúa.
Nhờ lời Đức Trinh Nữ Maria chuyển cầu, xin cho chúng con thật sự trở nên chứng nhân, làm tất cả để Thiên Chúa được tôn vinh, và phẩm giá con người được tôn trọng. Amen.
Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi các Kitô hữu noi gương hai thánh Tông đồ trong việc đi theo Chúa Kitô và loan báo Tin Mừng khắp mọi nơi. Đó là cách trả lời tốt nhất cho câu hỏi “Chúa Giêsu là ai đối với tôi?”
Bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô:
Thánh Phêrô và Phaolô, hai vị Tông đồ đầy lòng yêu mến Chúa, hai trụ cột đức tin của Giáo hội. Khi chúng ta chiêm ngắm cuộc đời của các ngài, hôm nay Tin Mừng chất vấn chúng ta với câu hỏi mà Chúa Giêsu đặt ra cho các môn đệ của mình: “Phần các con, các con nói gì? Đối với các con, Thầy là ai?” (Mt 16, 15). Đó là câu hỏi căn bản, quan trọng nhất: Chúa Giêsu là ai đối với tôi? Chúa Giêsu là ai trong cuộc đời tôi? Chúng ta hãy xem hai Tông đồ đã trả lời thế nào.
Câu trả lời của thánh Phêrô có thể được tóm tắt trong một từ: theo. Phêrô đã sống theo Chúa. Hôm đó, tại Xêdarê Philipphê, Chúa Giêsu đã hỏi các môn đệ. Phêrô đã trả lời bằng một lời tuyên xưng đức tin thật đẹp: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16, 16); một câu trả lời không chê vào đâu được, rõ ràng, chính xác, có thể nói là một câu trả lời “giáo lý” hoàn hảo. Nhưng câu trả lời này là kết quả của một cuộc hành trình: chỉ sau khi đã sống cuộc mạo hiểm thú vị bước theo Chúa, sau khi đã bước đi với Người và theo sau Người trong một thời gian dài, mà Phêrô mới đạt tới sự trưởng thành thiêng liêng này, vốn dẫn ngài, nhờ ân sủng, nhờ ân sủng thuần túy, đến một lời tuyên xưng đức tin rõ ràng như thế.
Quả thế, thánh sử Mátthêu cho chúng ta biết rằng mọi sự bắt đầu trên bờ biển Galilê, khi Chúa Giêsu đi ngang qua và đã gọi ngài, cùng với Anrê, anh của ngài; và “lập tức bỏ lưới, các ông đi theo Người” (Mt 4, 20). Phêrô đã bỏ tất cả để theo Chúa. Và Tin Mừng nhấn mạnh “lập tức”. Phêrô không nói với Chúa Giêsu rằng mình phải suy nghĩ về điều đó, ngài không tính toán xem điều đó có phù hợp với mình không, ngài không tìm cớ để trì hoãn quyết định; ngài đã bỏ lưới mà đi theo Người, không đòi hỏi bất kỳ an toàn nào trước. Ngài phải khám phá mọi sự từng ngày sau đó, bằng cách đi theo Chúa Giêsu và bước theo sau Người. Và không phải ngẫu nhiên mà những lời cuối cùng, được thuật lại trong các Tin Mừng, mà Chúa Giêsu nói với ngài là “Con hãy theo Thầy” (Ga 21, 22), nghĩa là đi theo Người.
Thánh Phêrô nói với chúng ta rằng đối với câu hỏi “Chúa Giêsu là ai đối với tôi?”, trả lời bằng một công thức giáo thuyết không thể chê vào đâu được thì chưa đủ, thậm chí không phải bằng một ý tưởng mà chúng ta đưa ra cho mình một lần cho tất cả. Không. Chính bằng cách đi theo Chúa mà chúng ta học biết Người mỗi ngày. Chính bằng cách trở thành môn đệ của Người và đón nhận Lời Người mà chúng ta trở nên bạn hữu của Người và cảm nghiệm được tình yêu của Người biến đổi chúng ta. Đối với chúng ta cũng vậy, điều “lập tức” này vang vọng lại. Nếu chúng ta có thể trì hoãn nhiều điều trong cuộc sống, thì việc đi theo Chúa Giêsu không thể được trì hoãn; đối với điều này, chúng ta không thể do dự, chúng ta không thể tìm lý do thoái thác. Chúng ta hãy lưu ý vì một số lý do thoái thác được khoác lên mình tấm áo thiêng liêng, như khi chúng ta nói “Tôi không xứng đáng”, “Tôi không có khả năng”, “tôi, tôi có thể làm gì được?” Đó là mánh khóe của ma quỷ vốn cướp đi niềm tin của chúng ta vào ân sủng của Thiên Chúa, bằng cách làm cho chúng ta tin rằng mọi sự sẽ tùy thuộc vào khả năng của chúng ta.
Tách mình ra khỏi những thứ an toàn của chúng ta – những thứ an toàn trần thế -, ngay lập tức, và đi theo Chúa Giêsu mỗi ngày: đó là chỉ dẫn mà Phêrô đưa ra cho chúng ta hôm nay bằng cách mời gọi chúng ta trở thành một Giáo-hội-đi-theo. Một Giáo-hội-đi-theo. Một Giáo hội muốn trở thành môn đệ của Chúa và thành người tôi tớ khiêm nhường của Tin Mừng. Chỉ bằng cách này, Giáo hội mới có thể đối thoại với mọi người, và trở thành một nơi đồng hành, gần gũi và hy vọng cho những người nữ người nam của thời đại chúng ta. Chỉ bằng cách này, ngay cả người ở xa nhất, thường đang nhìn chúng ta cách nghi ngờ hay dửng dưng, cuối cùng sẽ có thể nhận ra cùng với Đức Giáo hoàng Bênêđíctô: “Giáo hội là nơi gặp gỡ với Con Thiên Chúa hằng sống và, như thế, Giáo hội là nơi gặp gỡ giữa chúng ta” (Bài giảng Chúa Nhật II Mùa Vọng, ngày 10/12/2006).
Và bây giờ, chúng ta hãy đến với vị Tông đồ của các dân tộc. Nếu câu trả lời của Phêrô hệ tại ở việc đi theo, thì câu trả lời của Phaolô hệ tại ở việc loan báo, loan báo Tin Mừng. Đối với ngài cũng thế, mọi sự bắt đầu bằng ân sủng, theo sáng kiến của Chúa. Trên đường đi Damas, khi ngài đang kiêu hãnh bách hại các Kitô hữu, bị rào cản bởi xác tín tôn giáo của mình, thì Chúa Giêsu phục sinh đến gặp ngài và làm ngài mù lòa bằng ánh sáng của Người. Đúng hơn, nhờ ánh sáng này, Saolô nhận ra mình bị mù như thế nào. Bị nhốt kín trong sự kiêu ngạo về việc giữ luật cứng nhắc của mình, ngài khám phá ra nơi Chúa Giêsu sự hoàn thành mầu nhiệm cứu độ.
Giờ đây, ngài coi tất cả những an toàn của về mặt con người và tôn giáo của mình là “rác rưởi” so với sự cao cả là biết được Chúa Kitô (x. Pl 3, 7-8). Như thế, Phaolô đã cống hiến đời mình để khi khắp đất liền và biển khơi, các thành phố và làng mạc, không quản ngại khó khăn và bách hại, để loan báo Chúa Giêsu-Kitô. Nhìn vào câu chuyện của ngài, dường như càng loan báo Tin Mừng, ngài càng hiểu biết Chúa Giêsu. Việc loan báo Lời Chúa cho người khác cho phép ngài thấm nhập vào chiều sâu của mầu nhiệm Thiên Chúa, Đấng mà ngài đã viết “Khốn cho tôi nếu tôi không loan báo Tin Mừng!” (1Cr 9, 16); Đấng mà ngài tuyên xưng: “Đối với tôi, sống là Chúa Kitô”.
Do đó, thánh Phaolô nói với chúng ta rằng đối với câu hỏi “Chúa Giêsu là ai đối với tôi?”, chúng ta không trả lời bằng lòng sùng đạo sâu kín riêng tư để mặc chúng ta yên thân, mà không rung động bởi mối quan tâm mang Tin Mừng đến cho người khác. Thánh Tông đồ dạy cho chúng ta rằng chúng ta càng lớn lên trong đức tin và trong sự hiểu biết mầu nhiệm Chúa Kitô hơn nữa khi chúng ta loan báo và làm chứng cho Người. Và điều đó luôn xảy ra: khi chúng ta loan báo Tin Mừng, chúng ta được loan báo Tin Mừng. Đó là một kinh nghiệm hằng ngày: khi chúng ta loan báo Tin Mừng, chúng ta được loan báo Tin Mừng. Lời Chúa mà chúng ta mang đến cho người khác sẽ trở lại với chúng ta bởi vì, chúng ta cho đi bao nhiêu, chúng ta sẽ nhận được nhiều hơn bấy nhiêu (x. Lc 6, 38). Và điều đó cũng cần thiết cho Giáo hội ngày nay: đặt việc loan báo ở trung tâm. Trở thành một Giáo hội không bao giờ mệt mỏi lặp đi lặp lại với chính mình: “Đối với tôi, sống là Chúa Kitô” và “Khốn cho tôi nếu tôi không loan báo Tin Mừng”. Một Giáo hội cần loan báo Tin Mừng như cần dưỡng khí để thở; một Giáo hội không thể sống mà không thông truyền vòng tay yêu thương của Thiên Chúa và niềm vui của Tin Mừng.
Thưa anh chị em, chúng ta hãy mừng thánh Phêrô và Phaolô. Các ngài đã trả lời câu hỏi căn bản của cuộc sống – Chúa Giêsu là ai đối với tôi? – bằng cách đi theo Chúa Kitô và loan báo Tin Mừng. Thật đẹp khi lớn lên như một Giáo hội đi theo, như một Giáo hội khiêm tốn không bao giờ coi là đã thủ đắc được việc tìm kiếm Chúa. Thật đẹp khi trở thành một Giáo hội hướng ra bên ngoài, không tìm thấy niềm vui của mình nơi những thứ của thế gian nhưng trong việc loan báo Tin Mừng cho thế giới, để gieo vào lòng mọi người câu hỏi về Thiên Chúa. Mang Chúa Giêsu đến khắp mọi nơi, với lòng khiêm tốn và niềm vui: trong thành Rôma của chúng ta, trong các gia đình của chúng ta, trong các mối tương quan và các khu phố, trong xã hội dân, trong Giáo hội, trong chính trị, trên toàn thế giới, đặc biệt là ở những nơi có nghèo đói, suy thoái, sự gạt ra bên lề xã hội.
Và, hôm nay, khi một số anh em Tổng Giám mục của chúng ta lãnh nhận dây Pallium, một dấu hiệu của sự hiệp thông với Giáo hội Rôma, tôi muốn nói với họ: anh em hãy trở thành những tông đồ như thánh Phêrô và Phaolô. Anh em hãy trở thành những người môn đệ đi theo và những tông đồ loan báo, hãy mang lại vẻ đẹp của Tin Mừng đến mọi nơi, cho toàn thể Dân Thiên Chúa. Và cuối cùng, tôi muốn gởi lời chào thân ái đến Phái đoàn của Tòa Thượng phụ Đại kết, được gởi đến bởi người Anh rất yêu quý là Đức Bartôlômêô. Xin cảm ơn sự hiện diện của quý vị, xin cảm ơn: chúng ta hãy cùng nhau tiến bước trong việc đi theo và loan báo Lời Chúa, bằng cách lớn lên trong tình huynh đệ. Xin thánh Phêrô và Phaolô đồng hành và cầu bầu cho tất cả chúng ta.
*****************
BÀI GIẢNG NĂM 2024
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Hôm nay, lễ trọng kính hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, trong Tin Mừng Chúa Giêsu nói với ông Simon, mà Người đặt tên là Phêrô: “Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời” (Mt 16,19). Đây là lý do tại sao chúng ta thường thấy Thánh Phêrô được trình bày với hai chiếc chìa khóa lớn trong tay, như bức tượng ở Quảng trường này. Những chiếc chìa khóa đó tượng trưng cho thừa tác vụ thẩm quyền mà Chúa Giêsu đã giao phó cho ngài để phục vụ toàn thể Giáo hội. Bởi vì thẩm quyền là một việc phục vụ, thẩm quyền không phải là để được phục vụ, không phải độc tài.
Tuy nhiên, chúng ta hãy cẩn thận để hiểu rõ ý nghĩa của tất cả những điều này. Thật vậy, chìa khóa của Phêrô là chìa khóa Nước Trời, mà Chúa Giêsu không ví như một két sắt hay một căn phòng bọc thép, nhưng bằng những hình ảnh khác: một hạt giống nhỏ, một viên ngọc quý, một kho báu giấu kín, một nắm men (xem Mt 13,1-33), nghĩa là, như một điều gì đó quý giá và giàu sang, nhưng đồng thời lại nhỏ bé và kín đáo. Vì thế, để đạt được điều đó, điều cần thiết không phải là kích hoạt các cơ chế và ổ khóa bảo mật nhưng là trau dồi những đức tính như kiên nhẫn, để tâm, kiên trì, khiêm tốn và phục vụ.
Vì vậy, sứ mạng mà Chúa Giêsu giao phó cho Phêrô không phải là chặn cửa nhà, chỉ cho phép một số ít khách được chọn vào nhà, nhưng là giúp mọi người tìm được lối vào, trung thành với Tin Mừng của Chúa Giêsu. Tất cả, tất cả đều có thể vào.
Và Phêrô sẽ làm như vậy trong suốt cuộc đời của mình, một cách trung thành, cho đến khi tử đạo, sau khi chính mình kinh nghiệm được, dù với những khó khăn và nhiều lần sa ngã, niềm vui và sự tự do nảy sinh từ cuộc gặp gỡ với Chúa. Trước tiên, để mở cửa cho Chúa Giêsu, ông phải hoán cải, và hiểu rằng thẩm quyền là một sự phục vụ, và điều đó không hề dễ dàng đối với ông. Chúng ta hãy nghĩ đến câu chuyện: ngay sau khi ông nói với Chúa Giêsu: “Thầy là Đấng Kitô”, thì Thầy đã phải quở trách ông vì ông không chịu chấp nhận lời tiên báo về cuộc khổ nạn và cái chết của Người trên thập giá (xem Mt 16,21-23).
Phêrô nhận được chìa khóa Nước Trời không phải vì ông là người hoàn hảo, không, là một tội nhân; nhưng vì ông khiêm nhường và trung thực, và Chúa Cha đã ban cho ông một đức tin chân thực (x. Mt 16:17). Vì vậy, khi phó thác bản thân cho lòng thương xót của Thiên Chúa, Phêrô đã có thể nâng đỡ và củng cố anh em mình, như ông đã được yêu cầu (xem Lc 22,32).
Hôm nay chúng ta hãy tự hỏi: tôi có nuôi dưỡng, với ân sủng của Thiên Chúa, ước muốn bước vào Nước của Người, trở thành người bảo vệ chào đón người khác không? Và để làm được điều này, tôi có để mình được “mài dũa”, làm mềm mại, được uốn nắn bởi Chúa Giêsu và Thánh Thần của Người, Đấng sống trong chúng ta, mỗi người chúng ta không?
Xin Mẹ Maria, Nữ vương các Tông đồ, và các Thánh Phêrô và Phaolô, qua lời cầu bầu của các ngài, giúp chúng ta trở thành người hướng dẫn và nâng đỡ lẫn nhau đến gặp gỡ Chúa Giêsu.
(Bài giảng của ĐHY. Phêrô Nguyễn Văn Nhơn)
… “Phần các con, các con nghĩ Thầy là ai?” Simon Phêrô thưa rằng: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.
Anh chị em thân mến,
Có thể nói Chúa Giêsu không quan tâm đến dư luận nghĩ như thế nào về Ngài: Là Gioan Tẩy Giả mà Hêrôđê giết chết nay sống lại, là Elia, Giêrêmia, một tiên tri nào đó … điều đó không quan trọng. Người đời tự do nhận hay khước từ Chúa Giêsu, việc đó từ khi Ngài xuống thế gian cho đến bây giờ vẫn luôn xảy ra, chẳng những thế người ta còn gán cho Ngài những danh xưng, những đức tính hay những tật xấu … việc đó cũng không quan trọng.
Quan trọng là chúng ta, những người Ngài đã kêu gọi và được thanh tẩy trong Bí Tích Rửa Tội, Ngài đã ban cho Thần Khí của Ngài, Ngài đã dùng Lời và Mình Máu Thánh Ngài để nuôi dưỡng, Ngài đã không ngớt yêu thương và chăm sóc … Chúa sẽ hỏi chúng ta: “Còn con, con nghĩ Thầy là ai?”
Qua bài Tin Mừng Mt 16, 13 – 19: Hỏi về dư luận chỉ là cớ để Chúa Giêsu bắt vào câu chuyện, còn vấn đề chính là dành cho các tông đồ: “Chúng con nghĩ Thầy là ai?” sau khi Phêrô trả lời, Chúa Giêsu nói ngay: “Chẳng phải (điều con tuyên xưng) do xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con, nhưng là Cha Thầy, Đấng ngự trên trời”. Chính Chúa Cha đã mạc khải, đã chọn, đã tỏ cho thấy con có đức tin đó, cho nên Thầy chọn con, con trở nên tảng đá vững chắc, Thầy sẽ xây dựng Giáo Hội của Thầy trên con và Giáo Hội sẽ không bao giờ lay chuyển…
Thưa anh chị em,
Kể từ giây phút đó, dường như Chúa Giêsu bắt đầu đổi hướng trong việc rao giảng và giáo huấn. Ngài dành nhiều thì giờ cho nhóm Mười Hai, Ngài dạy dỗ, chỉ bảo cho các ông, vì Ngài biết rằng đây là nhóm người mà Chúa Cha đã chọn, đã trao cho Ngài và từ những con người này (những con người còn đầy dẫy những khuyết điểm, yếu đuối…) Ngài xây dựng làm nền tảng cho Hội Thánh. Trải qua bao nhiêu thử thách, không quyền lực nào có thể lay chuyển được Hội Thánh mà Ngài đã xây dựng. Chúng ta chính là Hội Thánh đó, là những con người Ngài xây dựng và luôn gìn giữ.
Trở lại với bài sách Công Vụ (Cv 12, 1 – 11), tôi nghĩ rằng dù trình bày như thế nào, chúng ta cũng không quên trọng tâm của câu chuyện: Thiên Chúa giữ lời Ngài nói qua miệng Chúa Giêsu “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. Lời Ngài được thực hiện khi thiên thần giải thoát Phêrô khỏi ngục tù cách lạ lùng (Phêrô được Chúa tuyển chọn và Phêrô được Chúa trao cho quyền tha – buộc tội lỗi, và trong chức năng đó, Chúa gìn giữ Phêrô…). Giáo Hội trải qua 2000 năm với bao nhiêu thử thách nhưng vẫn là Giáo Hội của Đức Kitô, ngày hôm nay có thể mang nhiều sắc thái khác nhau, những vị Giáo Hoàng khác nhau, nhưng vẫn là một Giáo Hội duy nhất, Giáo Hội mà Chúa Giêsu đã thiết lập trên nền tảng Phêrô. Chúng ta thấy Lời Chúa vẫn luôn được thực hiện,
Chương trình của Thiên Chúa rất mầu nhiệm, phong phú và đa dạng. Chúng ta nghĩ rằng với thánh Phêrô, với đoàn tông đồ như thế là đã đủ và từ đó cứ tiếp nối để Giáo Hội trường tồn, nhưng không, bên cạnh đó Chúa đã tuyển chọn Phaolô cách rất đặc biệt: Từ con người hăng hái bắt đạo, Chúa đã biến đổi lòng dạ và làm cho Phaolô trở nên tông đồ nhiệt thành.
Vậy vai trò của Phaolô trong Hội Thánh lúc bấy giờ là gì? (Đọc trong những đoạn kinh Phụng Vụ để thấy Thiên Chúa nhiệm mầu trong chương trình của Ngài) Phêrô là người tuyên xưng đức tin, trên Phêrô đức tin được xây dựng; Phaolô là người làm sáng tỏ đức tin, là người đem đức tin đó gieo trồng khắp mọi nơi. Hai khía cạnh đó luôn có Trong Hội Thánh, sứ mạng củng cố đức tin, xây dựng nội bộ và sứ mạng truyền giáo, sứ vụ đến với muôn dân … Ngày hôm nay chẳng những trong lòng Giáo Hội, chẳng những ở Giáo Hội địa phương mà ngay mỗi Giáo Xứ, mỗi cộng đoàn và mỗi người luôn phải sống hai khía cạnh đó: một đàng phải luôn đào sâu đức tin, sống gắn bó với Chúa nhiều hơn, đàng khác chúng ta không chỉ được sống cho mình mà phải biết chia sẻ đức tin cho anh em, càng biết đến với anh em, càng biết chia sẻ đức tin, biết loan báo Tin Mừng thì đức tin chúng ta càng vững chắc. Đó là chương trình của Thiên Chúa trao ban cho mỗi người chúng ta. Có thể chúng ta nói mình yếu đuối, tọi lỗi, nhưng thành thật mà nói, chắc chúng ta không tội lỗi hơn thánh Phaolô, cũng không tội lỗi hơn thánh Phêrô; còn nếu nói chúng ta yếu đuối thì tôi nghĩ rằng thánh Phaolô và thánh Phêrô còn có lúc yếu đuối hơn chúng ta. Thiên Chúa đã tuyển chọn và làm những việc lạ lùng với những con người tội lỗi, yếu đuối đó. Chúng ta cũng được Chúa tuyển chọn và ban Thánh Thần của Ngài, thế thì tại sao chúng ta lại không đi trên con đường đó và không can đảm nhận lấy trách nhiệm và sứ vụ đó?
Cử hành trọng thể lễ hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, chúng ta cám ơn Chúa đã yêu thương và xây dựng Hội Thánh để Ngài luôn hiện diện giữa thế gian. Nhờ có Hội Thánh, chúng ta được tiếp xúc với Thiên Chúa và được dạy dỗ để đi trên con đường của Ngài. Tin vào điều đó nhưng đồng thời cũng tin Chúa trao cho chúng ta (ở trong Hội Thánh) sứ vụ làm chứng cho Ngài, vì Ngài không chỉ muốn cứu độ một nhóm người, nhưng Ngài muốn tình yêu cứu độ của Ngài phải được loan báo cho muôn dân. Chúng ta là những người mà Ngài đang cần đến, là những người mà Ngài tuyển chọn để thi hành sứ mạng đó.
Mừng lễ hai thánh tông đồ, chắc chắn chúng ta thêm niềm tin trong Hội Thánh, thêm niềm tin trong sứ vụ mà Chúa đã trao cho Hội Thánh. Noi theo gương hai Ngài, chúng ta luôn tuyên xưng cách vững chắc “ Ngài là Đức Kitô, là Con Thiên Chúa hằng sống”, Ngài là Đấng đã đến trong thế gian để cứu chuộc nhân loại, Ngài đã xây dựng và đã sai Hội Thánh tiếp nối công việc của Ngài. Hiểu và tin được điều đó, chúng ta đã góp phần xây dựng Hội Thánh trường tồn và lan rộng cho đến tận cùng thế giới.
(Trích từ: Làm nụ hoa trắng – ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống)
PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ
HAI VỊ THÁNH CỦA TINH THẦN HIỆP NHẤT
Phêrô và Phaolô khác nhau nhiều lắm, nhưng một khi đã được biến đổi bởi niềm tin Phục sinh và nguồn ơn Thánh Thần, hai vị đã trở nên những con người mới, những phần tử hàng đầu xây dựng hiệp thông Giáo hội. Mừng lễ chung hai vị cũng là lúc thể hiện lòng yêu mến và phó thác. Xin hai vị luôn nâng đỡ Giáo hội hiệp thông.
***
Có lần đến mừng bổn mạng một vị Linh mục trọng tuổi. Ngài nói đùa rằng: “Tội nghiệp hai Thánh Phêrô và Phaolô quá! Những ông thánh bà thánh khác nhỏ hơn, thế mà lại được đứng tên một mình độc lập tự do hạnh phúc trong một ngày lễ. Đàng này Phêrô và Phaolô tiếng là hai thánh lớn của cả Giáo hội, thế mà lại phải chen vai đứng chung với nhau chặt chội trong một ngày lễ, dẫu đó là ngày lễ lớn. Ngài cười và phát biểu tiếp: Thà làm lớn trong một ngày lễ nhỏ còn hơn là Phêrô và Phaolô lại chịu làm nhỏ trong một ngày lễ lớn”.
Dĩ nhiên linh mục ấy chỉ nói đùa thôi. Nhưng trong cái tưởng như đùa cợt mua vui giữa các linh mục với nhau biết đâu lại chẳng ẩn chứa một chút nghiêm túc, một thoáng lắng sâu gợi mở cho suy tư về ngày lễ, để rồi khi nhìn vào chân dung của Phêrô và Phaolô bỗng chợt nhận ra dụng ý của Giáo hội; mừng hai Thánh Phêrô và Phaolô chung trong cùng một lễ là muốn nói lên tinh thần hiệp nhất, một tinh thần đã làm nên sự sống và mãi còn là sức sống của Giáo hội.
Nói đến hiệp nhất là nói đến một tinh thần gặp gỡ khởi đi từ những cái khác biệt. Phêrô và Phaolô khác nhau nhiều lắm.
Về thành phần bản thân: Phêrô là dân chài lưới chuyên nghiệp, cuộc sống chỉ diễn ra quanh quẩn nơi biển hồ Tibêria. Tác phong ngài bình dân, tính tình ngài bộc trực, có sao nói vậy, thậm chí đến độ thô thiển mộc mạc. Mặc dù có bề dày kinh nghiệm tuổi tác và ngành nghề, nhưng kiến thức về đời sống của ngài có chăng cũng không lớn hơn diện tích biển hồ. Còn Phaolô, ngược lại, là con nhà trí thức được ăn học đàng hoàng, đã từng có dịp đi lại đó đây. Kiến thức rộng, gốc gác Biệt phái nhiệt thành với truyền thống cha ông, đầy năng lực, tuổi trẻ tài cao và cũng không thiếu tham vọng cho tương lai, nên Phaolô mới nổi máu anh hùng “vấy máu ăn phần” trong việc bách hại các Kitô hữu thuở ban đầu.
Về ơn gọi theo Chúa Giêsu: Phêrô thuộc hệ chính quy, là một trong những tên tuổi mau mắn đáp lời theo Chúa Giêsu từ những ngày đầu sứ vụ công khai của Người. Nhanh nhẩu, mau mắn, hăng hái, ông thường thay mặt cho anh em để lên tiếng phát biểu. Được đặt làm đầu Nhóm Mười Hai đặc tuyển tức là Thủ quân đội tuyển Tông đồ với một bề dầy thành tích đáng gờm. Trong khi đó, Phaolô chỉ là đàn em, đã chẳng được theo trực tiếp Chúa Giêsu lại còn khét tiếng phản động đến nỗi trên đường đi Đamas để bố ráp tín hữu, tiếng từ trời đã phải can ngăn “Ta là Giêsu ngươi đang bắt bớ “. Nhưng đó cũng là khởi đầu của ơn gọi để Phaolô nghĩ lại sám hối mà đầu quân phục vụ Giáo hội. Chính Phaolô đã có lần thú nhận chẳng giấu giếm chi “Tôi là dân sinh sau đẻ muộn”. Không mặc cảm.
Về truyền giáo: Nếu Tông đồ là kẻ được sai đi truyền giáo, thì tuỳ theo khả năng cá nhân, mỗi người lại phục vụ theo cung cách của mình. Phêrô chủ trương “đánh bắt tại chỗ’, phục vụ Kitô hữu đa phần gốc Do Thái trở lại, nên thiết lập toà Antiôkia để dễ dàng điều hành quy tụ là chuyện bình thường. Chính tại Antiôkia, lần đầu tiên trong lịch sử Công giáo, các tín hữu nhận lấy danh xưng: ‘Kitô hữu’. Còn Phaolô lại theo chủ trương “ đánh bắt ngoài khơi”, ra khơi để truyền giáo với những chuyến hải trình không mệt mỏi. Trẻ trung, khỏe mạnh, học rộng, biết nhiều đã trở thành lợi thế cho ngài hành trình về phía trước Dân ngoại.
Chủ trương khác nhau nên có lúc không tránh hết được những va chạm. Đã có to tiếng về vấn đề cắt bì hay không cắt bì cho những người ngoại giáo gia nhập Kitô giáo. Đã có hiểu lầm ấm ức khi đối mặt giữa một bên là cầm cương nẩy mực đạo giáo và một bên là quan tâm đến những nhu cầu mục vụ chính đáng của tín hữu gốc lương tâm. Tuy nhiên khi hiểu ra, hai đấng đã tay bắt mặt mừng trong một tinh thần hiệp nhất lạ lùng!
Khởi đầu sự nghiệp Tông đồ tiếp bước Chúa Kitô, nếu hai vị đã hiệp nhất trong cùng một lòng chân thành tuyên xưng thì cũng hiệp nhất trong cùng một tâm huyết nhiệt thành rao giảng để mãi mãi hiệp nhất trong cùng một đức tin trung thành minh chứng.
Cùng chết tại Rôma. Cùng chịu tử đạo dù hình thức khác nhau trong những thời điểm khác nhau. Cùng trở thành nền đắp xây tòa nhà Hội thánh. Cùng trở nên biểu tượng hiên ngang của niềm tin Công giáo, để rồi hằng năm cứ vào ngày 29 tháng 6 lại cùng được mừng chung trong một ngày lễ. Chừng đó chữ “cùng” cũng đủ đề Phêrô gần gũi Phaolô và để Phaolô đứng chung với Phêrô như hình với bóng. Mình mới ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai. Mãi mãi Phêrô và Phaolô là tượng đài bất khuất và là bài ca không quên của tinh thần hiệp nhất trong Giáo hội. Tinh thần ấy hôm nay chỉ ra rằng.
Hiệp nhất không phải là đồng nhất theo kiểu đồng bộ nhất loạt ai cũng phải như ai, giống đồng phục của một hội đoàn hay như trong sản xuất hàng hoá đồng loạt. Nếu máy cùng một đời thì cũng cùng kiều dáng và chất lương như nhau. Hiệp nhất là khởi đi từ những cái khác nhau, những cái dị biệt, để hiểu biết tôn trọng và gắn bó hợp tác chung xây. Như thế mới phong phú đa chiều đa diện đa dạng, như những thành phần khác nhau làm nên một tổng hợp duy nhất hài hoà, như những chi thể khác nhau kết nên một thân mình, như những nốt nhạc cung bậc khác nhau làm thành một hoà âm tròn đầy.
Hiệp nhất cũng không phải là cầu toàn mười phân vẹn mười gọt giũa kỹ càng theo một hình mẫu, làm như tuỳ thuộc hoàn toàn vào ý chí con người mà không cần biết đến những biến số mang tính quyết định khác. Xây dựng một công trình vật thể như nhà cửa phòng ốc không ưng ý, người ta có thể đập bỏ để làm lại một cái mới vừa ý hơn, nhưng xây dựng một công trình phi vật thể nhất là lại liên quan đến yếu tố nhân sự thì không thể một sớm một chiều mà phá huỷ hoặc làm lại được. Nếu “duy ý chí “ đã là một lực cản đáng buồn cho sự tiến bộ, thì ở đây xem ra lại còn đáng buồn và đáng ngại hơn.
Hiệp nhất là một công trình được xây dựng với nhiều nỗ lực của con người dưới sự dẫn dắt linh động của ơn thánh và chí bền khát khao của mọi thế hệ. “Khác nhau trong điều phụ, hiệp nhất trong điều chính, yêu thương trong tất cả”, đó là khuôn vàng thước ngọc cho tinh thần hiệp nhất trong Giáo hội.
Nhưng đa dạng cũng đi liền với đa đoan. Không thể có hiệp nhất mà không vất vả. Hiệp mà không nhất chỉ là khiên cưỡng ép duyên bất hạnh ngục tù. Nhất mà không hiệp sẽ cứng cỏi lạnh lùng tự đủ thờ ơ. Hiệp để trở nên nhất và nhất mà vẫn luôn cần chất keo tinh thần của hiệp, đó mới là giá trị làm nên nét đẹp Kitô giáo. Nếu trong tình yêu hôn phối, những điều giống nhau là để hiểu nhau, còn những điểm khác nhau mới để yêu nhau, thì trong hiệp nhất Giáo hội cũng vậy, những điều giống nhau là nền tảng gặp gỡ, còn những điểm khác biệt lại là điều kiện tự nhiên để trở thành đa dạng, cho dẫu nhiều khi vì quá chú tâm đến những khác biệt người ta đã phải gạt lệ nhìn nhau xa cách. Hai cực nam châm giống nhau sẽ đẩy nhau, nhưng hai cực khác nhau mới thu hút gắn bó với nhau.
Tóm lại, Phêrô và Phaolô khác nhau nhiều lắm, nhưng một khi đã được biến đổi bởi niềm tin Phục sinh và nguồn ơn Thánh Thần, hai vị đã trở nên những con người mới, những phần tử hàng đầu xây dựng hiệp thông Giáo hội. Mừng lễ chung hai vị cũng là lúc thể hiện lòng yêu mến và phó thác. Xin hai vị luôn nâng đỡ Giáo hội hiệp thông.
(Trích từ: HẠT NẮNG VÔ TƯ – ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống)
Không phải vô tình mà trang Tin Mừng hôm nay được chọn đọc trong dịp lễ hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô dẫu chỉ đề cập đến một mình Phêrô. Cũng không phải vô tình mà câu trả lời của Phêrô lại được đánh giá cao với điểm tối ưu kèm theo huy chương vàng là chiếc chìa khoá đóng mở Cửa Trời.
Vâng, không phải vô tình, mà là hữu ý muốn tập chú vào một câu hỏi lớn cũng là cốt lõi của mạc khải Kitô giáo. Câu hỏi ấy là cửa ngõ dẫn tới đời sống đức tin. Câu hỏi ấy luôn chờ lời đáp trả dứt khoát cho một vận mệnh đời đời. Thế nên, mãi mãi còn là một bận tâm của toàn Giáo Hội và của từng tín hữu. Câu hỏi ấy là “Đức Giêsu là ai?”
Trong ngày lễ hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô hôm nay, ta thử nhận diện đôi nét về câu hỏi quan trọng này.
Trích đoạn Tin Mừng chính là câu trả lời mang tính tuyên xưng của Phêrô. Trong khi các Tông đồ khác còn mải mê tìm kiếm tư liệu trong những khuôn mặt nổi tiếng và tên tuổi quen thuộc của dư luận, thì một mình Phêrô bằng kỹ thuật cá nhân đã đột phá bứt lên để tuyên xưng “Đức Giêsu là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16).
Quả là một ý kiến chẳng giống ai, nhưng lại là lời tuyên xưng đắt giá có một không hai. Phêrô nhận ra trong Giêsu “con người” có một Giêsu “Thiên Chúa”, ông nhận ra trong nhân tính bình thường như mọi người của Đức Giêsu có một thần tính cao vượt rất riêng của vị Thiên Chúa làm người. Chả thế mà ông đã được Đức Giêsu khen tặng hạnh phúc và tín nhiệm gửi trao chìa khoá Nước Trời.
Còn Phaolô trên đường đi Đamas, khi gặp ánh sáng lạ từ trời đã hốt hoảng kêu lên “Ngài là ai?” để nhận lấy lời đáp bất ngờ “Ta là Giêsu ngươi đang bắt bớ” (Cv 9,5).
Dẫu được đặt ra bằng một cách khác với phêrô nhưng vẫn là câu hỏi muôn thuở “Đức Giêsu là ai?” để Phaolô bằng cõi lòng tin nhận đột phá bỗng hiểu ra rằng: À thì ra, Giêsu ánh sáng rạng ngời làm ông ngã ngựa cũng chính là Giêsu đồng hoá với các tín hữu ông đang truy lùng bắt bớ. Có nghĩa là trong Giêsu thần tính có một Giêsu đã mang lấy bộ mặt nhân tính của cả Giáo Hội lữ hành. Thảo nào, ông đã bỏ lại sau lưng tất cả dĩ vãng sự nghiệp công danh, để dấn bước phiêu lưu đi theo Đấng mang tên Giêsu lạ đời ấy.
Khám phá ra thần tính trong nhân tính như Phêrô, hay ngược lại, khám phá ra nhân tính trong thần tính như Phaolô đều là những cách tuyên xưng đột phá cho câu hỏi “Đức Giêsu là ai?”
Đức Giêsu thật lạ lùng. Không biết Người thì thôi, chứ đã biết Người thì không thể dửng dưng thờ ơ lạnh nhạt được nữa, nhất là khi biết Người bằng lời tuyên xưng đột phá mang tính bản thân như Phêrô và Phaolô thì còn quyết liệt hơn. Không chỉ đáp lại bằng mặt bằng lòng, mà còn bằng cả đời sống lòng thòng về sau. Đấy chính là ngã rẽ niềm tin.
Phêrô sau lời tuyên xưng không còn sống như Simon lúc trước được nữa. Ông đã được biến đổi. Ông đã vượt lên chính mình kinh qua những thử thách, cho dẫu đã có lúc dường như quên Chúa xa Chúa thậm chí chối Chúa, nhưng vẫn là một Phêrô khiêm nhường và kiên cường trong ơn sám hối, để gắn bó đầy trách nhiệm vào Đức Giêsu mà ông không ngừng rao giảng.
Phaolô sau lần ngã ngựa cũng không còn sống như Saolô lúc trước được nữa. Đổi mới tất cả và trọn vẹn bằng suy tư giáo lý, bằng gặp gỡ mục vụ, bằng hành trình truyền giáo, và bằng xây dựng Hội Thánh không mỏi mệt. Đã có những khó khăn như bị hiểu lầm nghi kị, chịu nghịch cảnh cầm tù… nhưng chính lúc ấy lại hiên ngang một phaolô trong dáng đứng kiên cường gắn bó đầy nhiệt thành với Đức Giêsu mà ông cảm thấy luôn bị thôi thúc phải loan truyền.
Như thế đó, Phêrô và Phaolô đã trả lời cho câu hỏi “Đức Giêsu là ai?” bằng cả đời sống của mình.
Đó là câu hỏi trí mạng, để trả lời đến cùng người ta phải đánh cá cuộc đời, phải dám liều mạng sống để mà minh chứng. Hình như đây là một quy luật: chính Đức Giêsu đã lấy mạng mình để minh chứng tình yêu lớn nhất Người dành cho con người, thì con người cũng cần hiến thân một cách nào đó mà tuyên xưng Người là Thiên Chúa hằng sống.
Và đây cũng chính là điều gặp gỡ rõ rệt nhất, hào hùng nhất, bất khuất nhất giữa Phêrô và Phaolô. Chẳng ai bảo ai, mỗi người một ngả, nhưng cuối đời cả hai đã tới Rôma, và giữa những cơn bách hại khốc liệt dưới triều Nêron, Phêrô vào năm 64 và Phaolô năm 67, cả hai đã đánh đổi mạng sống như để tuyên tín cho muôn đời rằng: Đức Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật, đó là đức tin của chúng tôi, đó là đức tin của Hội Thánh, và chúng tôi hãnh diện tuyên xưng đức tin ấy.
Truyện kể rằng: Phêrô bị đóng đinh ngược đầu xụống đất, cho mắt ngài thuận chiều hướng đến trời cao mãi mãi chiêm ngưỡng thần tính của Đức Giêsu, Đấng mà ngài đã từng hân hạnh đụng chạm đến. Và truyện cũng kể rằng: Phaolô bị xử trảm giữa lúc nghe thì thầm bên tai lời quen thuộc của Đấng năm nào ngài đã gặp trên đường Đamas: “Ta là Giêsu mà vì Ta, ngươi chịu bắt bớ. Nhưng can đảm lên, ơn Ta đủ cho ngươi”.
Tóm lại, “Đức Giêsu là ai?” Câu hỏi ấy Phêrô và Phaolô đã trả lời bằng lời chân thành tuyên xưng, bằng đời nhiệt thành rao giảng và bằng cái chết trung thành minh chứng, để ở thượng nguồn đức tin Kitô giáo, các ngài trở nên “người mẫu” cho các tín hữu mọi thời, và trên Thiên quốc, các ngài là những “nhà bảo trợ” cho toàn thể Hội Thánh.
“Đức Giêsu là ai?” Đó cũng là câu hỏi đặt ra cho ta hôm nay để ta lặp lại niềm tin yêu hy vọng nơi thần tính và nhân tính của Đức Giêsu Kitô. Người là Thiên Chúa để ta tôn thờ kính yêu thao thức kiếm tìm gặp gỡ gắn bó. Người ở trong Bí Tích, Phụng Vụ, Thánh Kinh, THánh Thể cho ta tìm hiểu lãnh nhận. Người hiện diện nơi người đồng loại đồng bào đồng đạo đồng hương đồng thời đồng giáo xứ, đồng khu phố…để gọi ta tôn trọng thương mến quan tâm chia sẻ cảm thông liên đới trách nhiệm. Người có mặt trong Giáo Hội, nơi lòng xã hội. Người có đó, trong đạo và giữa đời. Người có đó, trong anh chị em, trong tôi và chúng ta. Người hôm qua hôm nay và mãi mãi “là Thiên Chúa thật và là người thật”.
Trả lời cho câu hỏi “Đức Giêsu là ai?” như lời “Kinh Tin Kính” đẹp thôi, nhưng trả lời bằng cuộc đời dám sống và dám chết tưởng không dễ nói dễ làm dễ ưa dễ chịu. Nhưng như thế mới là hạnh phúc, thứ hạnh phúc chỉ được trao ở cuối đường trung thành sống đạo, như chiếc chìa khoá vàng và thanh gươm vàng mà hai tiền đạo anh dũng Phêrô và Phaolô đã nhận được ở cuối đường sự sống giữa sân cỏ cuộc đời.
Xin Phêrô và Phaolô giúp ta sống câu hỏi “Đức Giêsu là ai?” một cách cụ thể, để vượt lên chính mình, ta sẽ có ngày gặp được hạnh phúc của những kẻ tin, và dẫu tương lai vẫn còn đó nhiều bất ngờ bất ổn bất trắc, nhưng đã ánh lên niềm hy vọng, vì ta vẫn có đó hai nhà bảo trợ sẵn sàng dẫn đường đi tới bến bờ bình an. Lạy hai thánh Tông đồ phêrô và Phaolô, xin cầu cho chúng con.
PHÊRÔ & PHAOLÔ: HAI VỊ THÁNH CỦA LÒNG SÁM HỐI
(Trích từ: HẠT NẮNG VÔ TƯ – ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống)
Hôm nay Giáo Hội mừng kính hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô. Đó là hai khuôn mặt vĩ đại ở thượng nguồn niềm tin Kitô giáo, những chứng nhân tiên khởi và sáng giá của Đức Kitô Phục Sinh. Đó cũng là hai cột trụ vững chắc nâng đỡ Giáo Hội trải qua biết bao thăng trầm dọc dài lịch sử hai mươi thế kỉ nay. Đó còn là hai vị thánh “cả” (thánh lớn, thánh vĩ đại) đối với mắt nhìn và lòng sùng kính của mọi tín hữu.
Chỉ nhìn những nét cao cả, người ta có thể nghĩ rằng các ngài ở quá xa trong thời gian, ở quá cao trong cương vị, và có nguy cơ ở bên lề nhịp sống Giáo Hội; trong khi đời sống và ơn gọi của hai Đấng xem ra lại rất gần với đời kẻ tin. Trong Thánh lễ vọng mừng kính hôm nay, xin được nhìn Phêrô và Phaolô như hai vị thánh của lòng sám hối.
Phêrô qua trang Tin Mừng hôm nay xuất hiện ở đỉnh cao yêu mến đến nỗi đã được Chúa Giêsu tín nhiệm gửi trao đoàn chiên Giáo Hội. Nhưng đời sống của ngài đã có những bóng tối tội lỗi phủ trùm. Chỉ sau phút tuyên xưng đức tin để đời, ngài đã bị Chúa Giêsu quở trách là “Satan hãy xéo đi” khi có ý ngăn cản Người lên Giêrusalem để chịu nạn. Rồi khi đang ung dung bước trên ngọn sóng đến với Chúa Giêsu, thì vì hụt hẫng lòng tin, ngài đã bị nhấn chìm trong làn nước.
Nhất là trong thảm kịch của Đấng Cứu Thế, Phêrô xuất hiện trong một dáng dấp khó thương hơn bất cứ Tông đồ nào. Ngủ vùi trong vườn Cây Dầu lúc Chúa hấp hối, đó là tội quên Chúa. Rút gươm chém đứt tai tên đầy tớ vị thượng tế, đó là tội không vâng theo ý Cha. Sợ quá bỏ ra khi thấy Chúa bị bắt, đó là tội lìa xa Chúa. Và chối Chúa ba lần trước mặt người tớ gái, đó là tội phản bội. Rõ ràng Phêrô là người đã biết đến tội.
Phaolô cũng thế, trước khi là vị Tông đồ nổi tiếng, ông đã là một người khét tiếng trong dư luận tín hữu thời sơ khai đến nỗi nghe đến tên ông người ta phải trốn chạy như chạy tà. Ông là kẻ bách hại đạo Công Giáo trước bất cứ ai. Tuổi trẻ ông săn lùng các tín hữu. Thế giá ông đe doạ họ. Bàn tay ông đã từng vấy máu các Thánh Tử Đạo tiên khởi. Ông ghét đạo đã đành, lại còn tự nguyện xin lệnh đi ruồng đi bố ráp những người theo đạo nữa. Quả thật, Phaolô là kẻ đã có kinh nghiệm về tội.
Nhưng điều quan trọng không phải là kể tội các ngài cho nhiều, mà là khởi đi từ tình trạng tội luỵ ấy để nhận ra, một khi đã được Chúa đánh động, Phêrô và Phaolô đã quyết chí tìm về và hết mình sống cho sứ mạng được trao phó.
Phêrô sau biến cố Phục Sinh đã là một Phêrô khác hẳn. Được hoàn toàn biến đổi: nên mới nên mạnh, nên lành nên trong, nên thông nên sáng, làm tiền đề để nên rạng ngời thánh đức hơn. Ngài đã thể hiện vai trò Tông đồ trưởng với tầm cao tương xứng của tinh thần trách nhiệm, và đã chu toàn sứ mạng thủ lãnh Giáo Hội Công Giáo với nét đẹp của dạ can trường. Để rồi cuối cùng chịu án đóng đinh tại Rôma làm sáng lên hình ảnh bất khuất của một niềm tin vào Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa hằng sống. Nhờ sám hối, Phêrô đã nên thánh.
Còn Phaolô thì sau biến cố trên đường Đamas, nơi ông không còn giữ lại điều gì cũ nữa, mà tất cả đã được biến đổi. Nếu trước đây nhiệt tình cộng với ngu dốt về đạo đã trở thành phá hoại và gây khó khăn không ít cho Giáo Hội, thì sau này chính lòng nhiệt thành ấy cộng với ơn thánh và óc cầu tiến, Phaolô đã trở nên mẫu người không ai theo kịp về việc xây dựng Giáo Hội.
Nhiệt thành yêu Chúa Kitô, nhiệt thành yêu mến Tin Mừng và nhiệt thành đến ngổ ngáo trong việc truyền giáo. Tung hoành ngang dọc trên những cánh đồng Dân ngoại, để mỗi ngày đem về cho Chúa nhiều tâm hồn hoán cải. Cuối cùng, cũng chính tại Rôma, Phaolô đã bị xử trảm để mãi còn âm vang tiếng nói cao rao lòng nhiệt thành đến độ sẵn sàng hiến dâng mạng sống vì Tin Mừng cứu độ. Nhờ sám hối, Phaolô cũng trở nên đại thánh.
Nghiêng mình trước hai vị thánh đáng kính trong Phụng Vụ Thánh lễ hôm nay, tín hữu bỗng hiểu ra rằng: nét cao cả hai Đấng có được không phải là điều đương nhiên hay do tính tự nhiên, nhưng đã được đánh đổi bằng cả cuộc đời sám hối và không ngừng kêu gọi người ta sám hối.
Nếu trong thư của Phêrô, có lần chép: “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu căng, nhưng ban ơn cho người khiêm nhu” (1 Pr 5,5), thì đó là vì ngài đã từng kinh nghiệm trong vai trò của nhà lãnh đạo sám hối tự nhìn vào mình, và chắc chắn đó là rút ruột tâm sự của một đời tay hòm chìa khoá Nước Trời, luôn tỉnh táo vật lộn với chính mình để vươn lên trong ơn thánh Chúa.
Và nếu trong thư của Phaolô đã nhiều lần kêu gọi: “Hãy giũ bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới” (Ep 4,24), thì đó chẳng phải là lời khuyến thiện bờ môi chót lưỡi, mà chính là khởi đi từ một chuyện lòng rất riêng của một con người đã kinh qua chặng đường gạn đục khơi trong từ bỏ cái cũ kỹ tội lỗi để bước sang cái mới mẻ trẻ trung tuyệt vời.
Thì ra cái cao cả là cái phải trả giá bằng dò tìm trong hoán cải, là cái phải khổ công thắng vượt mà vươn lên, là cái phải kiểm tra xây dựng cân chỉnh không ngừng. Không biết có nên phát biể rằng: hôm nay Phêrô và Phaolô cao cả bao nhiêu là vì hôm qua đã sám hối bấy nhiêu. Giống như những ngôi nhà cao tầng đứng vững là vì có móng nền được chôn sâu trong lòng đất.
Tạ ơn Chúa đã không gọi một vị thánh lý lịch trong sạch hoàn toàn để đứng đầu Giáo Hội và một vị thánh chưa kinh nghiệm hoán cải để rao giảng Tin Mừng, mà đã thương chọn gọi hai vị sám hối để hôm nay nên Thánh cả rạng ngời. Ý nghĩ và tâm tình ấy đã nên nguồn cổ vũ cho đời sống tín hữu.
Để thêm tin tưởng: tại sao tôi phạm tội hoài? Tại sao trong Giáo Hội thánh thiện vẫn còn đó nhưng tội nhân? Bởi vì bản chất Giáo Hội là thánh, nhưng trong cuộc lữ hành vẫn cưu mang những kẻ có tội cần ơn sám hối. Điều quan trọng là biết trỗi dậy vươn lên kìa. Không phải vì mạnh mẽ mà người ta trỗi dậy được, nhưng vì trỗi dậy được người ta trở nên mạnh mẽ.
Để thêm hy vọng: tội lỗi quá làm sao nên thánh? Đừng lo. Bằng dạn dày kinh nghiệm, Phêrô và Phaolô đã là “đầu xuôi” để ta hôm nay nếu biết sám hối cũng trở nên “đuôi lọt” như các ngài, và nhờ lời chuyển cầu của hai vị cột trụ Hội Thánh, ta được thêm chí bền mà thắng lướt. Không thánh nhân nào không có quá khứ, chẳng tội nhân nào không có tương lai.
Để thêm yêu mến: Phêrô và Phaolô, hai gương mặt cao cả, nhưng không ở cao ở xa ở ngoài để lạnh lùng nhìn đời bằng nửa con mắt. Trái lại, mãi mãi các ngài vẫn ở trong Giáo Hội để ân cần gần gũi với mọi tâm hồn và sẵn sàng đỡ nâng dìu về đường ngay nẻo chính. Thanh gươm Phaolô chiến đấu giúp ta lìa xa tội lỗi, và chìa khoá Phêrô nhẹ nhàng mở ra cho ta cánh cửa Nước Trời.
(Suy niệm của ĐGM. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm – Trích trong Giải Nghĩa Lời Chúa)
HỦY BỎ CON NGƯỜI CŨ ĐỂ MẶC LẤY CON NGƯỜI MỚI
Suy Niệm:
Kinh Thánh có nhiều đoạn về hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô; nhưng phụng vụ đọc cho chúng ta nghe 3 bài này trong thánh lễ hôm nay. Chắc chắn phải có một hay nhiều ý tứ nào đó. Chúng ta được tự do tìm hiểu. Và nếu chúng ta đồng ý, chúng ta thử xếp đặt lại thứ tự 3 bài đọc như sau để có một phương hướng suy nghĩ. Trước hết bài Phúc âm gợi lên vinh dự của hai thánh Tông đồ được đặt làm rường cột cho Hội Thánh Chúa, rồi bài sách Công vụ cho chúng ta thấy các ngài được bảo hộ mạnh mẽ như thế nào khi thi hành sứ vụ; và cuối cùng bài Thánh thư kêu gọi chúng ta hết thảy hãy tin tưởng phấn đấu như các ngài đã hy sinh không mỏi mệt.
Bài Tin Mừng chỉ nói đến vinh dự đặc biệt đã được dành cho Phêrô. Nhưng vinh dự ấy một ngày kia cũng sẽ được trao tặng Phaolô qua lời Chúa phán với Hananya: Hãy đi tìm Saulô, vì nó là lợi khí Ta chọn để mang Danh Ta ra trước mặt các dân ngoại. Và Hananya đã ra đi làm theo lệnh Chúa, vì ông hiểu Phaolô đã được đặc cách, như Phêrô và các Tông đồ trước đây.
Phêrô hôm ấy cùng đi theo Chúa với đồng bạn… Cuộc truyền giáo của Chúa ở Galilê đã sửa soạn hoàn tất. Ngài sắp phải qua Yuđê để chịu thương khó. Ngài ý thức mọi sự và mọi việc. Ðể đánh dấu khúc quanh lịch sử quan trọng này, Chúa Yêsu đột xuất qua hỏi môn đệ: Người ta nói Con Người là ai? Ngài muốn đo kết quả của 3 năm truyền giáo. Ngài muốn biết môn đệ đã hiểu Ngài đến mức nào?
Người thì bảo Ngài là Yoan Tẩy giả; kẻ lại nói Ngài là Êlya; nhiều người khác nữa thì tưởng Ngài là Yêrêmya hay một tiên tri nào đó. Như vậy chung chung thiên hạ đã lờ mờ nghĩ rằng Ngài là Thiên sai cứu thế vì dư luận Dothái thời đó cho rằng các vị tiên tri như thế sẽ trở lại trong thời Ðấng Thiên sai và có thể một trong những vị đó sẽ chính là Ðấng muôn dân trông đợi. Ở đây chúng ta chỉ chú ý điều này: một mình sách Tin Mừng Matthêô nhắc đến tên tiên tri Yêrêmya, có lẽ muốn ngầm nói rằng: Ðấng Thiên sai sẽ đau khổ và bị bắt bớ như nhà Tiên tri đã có cuộc đời gian nan khổ sở, mà Chúa nhật XII Thường niên chúng ta đã nghe nói. Dù sao phần đông người ta vẫn chưa dám khẳng định dứt khoát Ðức Yêsu Kitô là ai.1.Anh Là Tảng Đá
(Trích trong ‘Manna’ – Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ.)
Suy Niệm
Trong ngày lễ kính thánh Phêrô và thánh Phaolô,
chúng ta được mời gọi chiêm ngắm hai khuôn mặt, rất khác nhau mà cũng rất giống nhau.
Phêrô, một người đánh cá ít học, đã lập gia đình.
Ông theo Thầy Giêsu ngay từ buổi đầu sứ vụ.
Còn Phaolô là người có nhiều điều để tự hào, về gia thế, về học thức, về đời sống đạo hạnh.
Ông chưa hề gặp mặt Đức Giêsu khi Ngài còn sống.
Nhưng hai ông có nhiều nét tương đồng.
Cả hai đều được Đức Giêsu gọi.
Phêrô được gọi khi ông đang thả lưới bắt cá nuôi vợ con.
Phaolô được gọi khi ông hung hăng tiến vào Đamát.
Cả hai đã từ bỏ tất cả để theo Ngài.
Tất cả của Phêrô là gia đình và nghề nghiệp.
Tất cả của Phaolô là những gì ông cậy dựa vênh vang.
Bỏ tất cả là chấp nhận bấp bênh, tay trắng.
Cả hai đều đã từng có lần vấp ngã.
Vấp ngã bất ngờ sau khi theo Thầy như Phêrô,
trong một phút giây quá tự tin vào sức mình.
Ngã ngựa bất ngờ và trở nên mù lòa như Phaolô,
trong lúc tưởng mình sáng mắt và đi đúng hướng.
Vấp ngã nào cũng đau và in một dấu không phai.
Vấp ngã bẻ lái đưa con người đi vào hướng mới.
Phêrô và Phaolô đều yêu Đức Giêsu cách nồng nhiệt,
vì họ cảm nhận sâu xa mình được Ngài yêu.
“Này anh Simon, anh có mến Thầy không?
Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy.” (Ga 21,16)
Cả Phaolô cũng yêu Đấng ông chưa hề chung sống,
vì Ngài là “Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi.” (Gl 2, 20).
Phaolô đã không ngần ngại khẳng định:
Không gì có thể tách được chúng ta ra khỏi Tình Yêu của Đức Kitô (x. Rm 8, 35.39)
Tình yêu Đức Kitô là linh hồn của đời truyền giáo,
vì nói cho cùng truyền giáo chính là giúp người khác nhận ra và yêu mến
Đấng đã yêu tôi và yêu cả nhân loại.
Cả hai vị tông đồ đều hăng say rao giảng,
bất chấp muôn vàn nguy hiểm khổ đau.
Phêrô đã từng chịu đòn vọt ngục tù (x. Cv 5,40).
Còn nỗi đau của Phaolô thì không sao kể xiết (x. 2C 11, 23-28).
“Tôi mang trên mình tôi những thương tích của Đức Giêsu” (Gl 6, 1-7)
Cả hai vị đã chết như Thầy. Phêrô bị dẫn đến nơi ông chẳng muốn (x. Ga 21, 18).
Phaolô đã chiến đấu anh dũng cho đến cùng, và đã đổ máu ra làm lễ tế (x. 2Tm 4, 6).
Hội Thánh hôm nay vẫn cần những Phêrô và Phaolô mới,
dám bỏ, dám theo và dám yêu dám sống và dám chết cho Đức Kitô và Tin Mừng.
Hội Thánh vẫn cần những chiếc cột và những tảng đá.
Gợi Ý Chia Sẻ
Bạn biết gì về thánh Phêrô và thánh Phaolô? Có nét nào nơi hai vị thánh làm bạn ưa thích?
Bạn nghĩ gì về Đức Thánh Cha? Bạn biết gì về những hoạt động của Ngài cho giới trẻ?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa, chúng con không hiểu tại sao Chúa chọn Simon,
một người đánh cá ít học và đã lập gia đình, để làm vị Giáo Hoàng đầu tiên của Giáo Hội.
Chúa xây dựng Giáo Hội trên một tảng đá mong manh,
để ai nấy ngất ngây trước quyền năng của Chúa.
Hôm nay Chúa cũng gọi chúng con theo Chúa, sống cho Chúa,
đặt Chúa lên trên mọi sự: gia đình, sự nghiệp, người yêu.
Chúng con chẳng thể nào từ chối viện cớ mình kém đức kém tài.
Chúa đưa chúng con đi xa hơn, đến những nơi bất ngờ, vì Chúa cần chúng con ở đó.
Xin cho chúng con một chút liều lĩnh của Simon,
bỏ mái nhà êm ấm để lên đường, hạnh phúc vì biết mình đang đi sau Chúa. Amen.
(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ.)
Suy niệm:
Câu chuyện của bài Tin Mừng hôm nay diễn ra bên bờ hồ, một cái hồ mang nhiều tên gọi: hồ Galilê, hồ Hennêxarét, hồ Tibêriát.
Cái hồ quen thuộc đầy ắp kỷ niệm giữa Thầy và trò. Nơi đây tiếng gọi đầu tiên của Thầy Giêsu đã vang lên:
Hãy theo Thầy. Tiếng ấy đã khiến họ từ bỏ nghề sông nước để lên bờ, đi theo ông thợ mộc làng Nazareth.
Bao lần Thầy trò đi qua cái hồ rộng như biển này. Sóng gió họ cũng đã gặp, vui buồn họ cũng đã từng.
Sáng sớm hôm nay, trên hồ này họ đánh được mẻ cá lớn, nhờ một người lạ đứng trên bờ mà họ từ từ nhận ra là Thầy của mình.
Bữa ăn sáng do Thầy chuẩn bị thật chu đáo. Có bánh và cá, có cả đống than hồng hong ấm tình Thầy trò.
Ngọn lửa này gợi nhớ đến đống than hồng ở dinh Thượng tế, nơi Phêrô đã đứng sưởi và đã chối Thầy. (Ga 18, 18. 25)
Bây giờ, cũng bên đống than hồng, Thầy Giêsu cho Phêrô có cơ hội công khai bày tỏ tình yêu của mình.
“Anh có yêu mến Thầy không?” Ba lần Thầy Giêsu hỏi Phêrô như thế. “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy.”
Ba lần Phêrô trả lời như thế. Ba lần chối Thầy như được xóa đi bởi ba lần tuyên xưng tình yêu.
Nhưng bây giờ Phêrô khiêm tốn, biết tình yêu của mình mong manh, dễ vỡ. “Hãy chăn dắt chiên của Thầy”
Ba lần Thầy Giêsu đã nói như thế. Tình yêu dẫn đến sứ mạng chăn dắt đoàn chiên mà Thầy quý chuộng.
Phải yêu Thầy thì mới yêu chiên của Thầy. Yêu Thầy là điều kiện để được Thầy trao sứ mạng mục tử.
Làm mục tử là tiếp nối công việc của Thầy Giêsu, Mục tử nhân hậu,
nên cũng phải sẵn sàng chấp nhận cái chết như Thầy, (cc. 18-19) chết cho đoàn chiên, chết để tôn vinh Thiên Chúa. (c. 19)
“Hãy theo Thầy!” lời mời năm xưa cũng là lời mời được lặp lại bây giờ.
“Hãy theo Thầy!” sau những vấp ngã, yếu đuối và chối Thầy.
“Hãy theo Thầy!” sau khi những giấc mơ trần tục bị tan vỡ bởi biến cố Núi Sọ.
“Hãy theo Thầy!” sau những hăng hái nồng nhiệt thuở ban đầu.
“Hãy theo Thầy!” để giang tay ra và đến nơi mình không muốn đến.
“Hãy theo Thầy!” để củng cố anh em và chăn dắt chiên của Thầy. (Lc 22, 31-32)
Hôm nay Chúa Giêsu Phục sinh cũng hỏi từng Kitô hữu: “Con có mến Thầy không?”
Và Ngài chờ một câu trả lời trước khi trao sứ mạng, vì ai trong chúng ta cũng có sứ mạng chăm sóc một nhóm người nào đó.
Xin ơn yêu Giêsu bằng tình yêu thiết thân riêng tư. Xin ơn theo Ngài vì nghe thấy lời mời gọi vang lên mỗi ngày: “Hãy theo Thầy.”
Và xin ơn dám sống hết mình cho những người được Chúa trao phó.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, xưa Chúa đã sai các môn đệ ra khơi thả lưới, nay Chúa cũng sai chúng con đi vào cuộc đời.
Chúng con phải đối diện với bao thách đố của cuộc sống, của công ăn việc làm, của gánh nặng gia đình, của nghề nghiệp chuyên môn.
Xin đừng để chúng con sa vào cạm bẫy của vật chất và quyền lực, nhưng cho chúng con giữ nguyên lý tưởng thuở ban đầu, lý tưởng phục vụ quê hương và Hội Thánh.
Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con sống thực tế, nhưng không thực dụng; biết xoay xở nhưng không mưu mô; lo cho tương lai cá nhân, nhưng không quên bao người bất hạnh cần nâng đỡ.
Giữa cơn lốc của trách nhiệm và công việc, giữa những xâu xé trước bao lựa chọn,
xin cho chúng con biết tìm những phút giây trầm lắng, để múc lấy ánh sáng và sức mạnh, để mình được thật là mình trước mặt Chúa.
Nhờ lời Đức Trinh Nữ Maria chuyển cầu, xin cho chúng con thật sự trở nên chứng nhân, làm tất cả để Thiên Chúa được tôn vinh, và phẩm giá con người được tôn trọng. Amen.
Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi các Kitô hữu noi gương hai thánh Tông đồ trong việc đi theo Chúa Kitô và loan báo Tin Mừng khắp mọi nơi. Đó là cách trả lời tốt nhất cho câu hỏi “Chúa Giêsu là ai đối với tôi?”
Bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô:
Thánh Phêrô và Phaolô, hai vị Tông đồ đầy lòng yêu mến Chúa, hai trụ cột đức tin của Giáo hội. Khi chúng ta chiêm ngắm cuộc đời của các ngài, hôm nay Tin Mừng chất vấn chúng ta với câu hỏi mà Chúa Giêsu đặt ra cho các môn đệ của mình: “Phần các con, các con nói gì? Đối với các con, Thầy là ai?” (Mt 16, 15). Đó là câu hỏi căn bản, quan trọng nhất: Chúa Giêsu là ai đối với tôi? Chúa Giêsu là ai trong cuộc đời tôi? Chúng ta hãy xem hai Tông đồ đã trả lời thế nào.
Câu trả lời của thánh Phêrô có thể được tóm tắt trong một từ: theo. Phêrô đã sống theo Chúa. Hôm đó, tại Xêdarê Philipphê, Chúa Giêsu đã hỏi các môn đệ. Phêrô đã trả lời bằng một lời tuyên xưng đức tin thật đẹp: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16, 16); một câu trả lời không chê vào đâu được, rõ ràng, chính xác, có thể nói là một câu trả lời “giáo lý” hoàn hảo. Nhưng câu trả lời này là kết quả của một cuộc hành trình: chỉ sau khi đã sống cuộc mạo hiểm thú vị bước theo Chúa, sau khi đã bước đi với Người và theo sau Người trong một thời gian dài, mà Phêrô mới đạt tới sự trưởng thành thiêng liêng này, vốn dẫn ngài, nhờ ân sủng, nhờ ân sủng thuần túy, đến một lời tuyên xưng đức tin rõ ràng như thế.
Quả thế, thánh sử Mátthêu cho chúng ta biết rằng mọi sự bắt đầu trên bờ biển Galilê, khi Chúa Giêsu đi ngang qua và đã gọi ngài, cùng với Anrê, anh của ngài; và “lập tức bỏ lưới, các ông đi theo Người” (Mt 4, 20). Phêrô đã bỏ tất cả để theo Chúa. Và Tin Mừng nhấn mạnh “lập tức”. Phêrô không nói với Chúa Giêsu rằng mình phải suy nghĩ về điều đó, ngài không tính toán xem điều đó có phù hợp với mình không, ngài không tìm cớ để trì hoãn quyết định; ngài đã bỏ lưới mà đi theo Người, không đòi hỏi bất kỳ an toàn nào trước. Ngài phải khám phá mọi sự từng ngày sau đó, bằng cách đi theo Chúa Giêsu và bước theo sau Người. Và không phải ngẫu nhiên mà những lời cuối cùng, được thuật lại trong các Tin Mừng, mà Chúa Giêsu nói với ngài là “Con hãy theo Thầy” (Ga 21, 22), nghĩa là đi theo Người.
Thánh Phêrô nói với chúng ta rằng đối với câu hỏi “Chúa Giêsu là ai đối với tôi?”, trả lời bằng một công thức giáo thuyết không thể chê vào đâu được thì chưa đủ, thậm chí không phải bằng một ý tưởng mà chúng ta đưa ra cho mình một lần cho tất cả. Không. Chính bằng cách đi theo Chúa mà chúng ta học biết Người mỗi ngày. Chính bằng cách trở thành môn đệ của Người và đón nhận Lời Người mà chúng ta trở nên bạn hữu của Người và cảm nghiệm được tình yêu của Người biến đổi chúng ta. Đối với chúng ta cũng vậy, điều “lập tức” này vang vọng lại. Nếu chúng ta có thể trì hoãn nhiều điều trong cuộc sống, thì việc đi theo Chúa Giêsu không thể được trì hoãn; đối với điều này, chúng ta không thể do dự, chúng ta không thể tìm lý do thoái thác. Chúng ta hãy lưu ý vì một số lý do thoái thác được khoác lên mình tấm áo thiêng liêng, như khi chúng ta nói “Tôi không xứng đáng”, “Tôi không có khả năng”, “tôi, tôi có thể làm gì được?” Đó là mánh khóe của ma quỷ vốn cướp đi niềm tin của chúng ta vào ân sủng của Thiên Chúa, bằng cách làm cho chúng ta tin rằng mọi sự sẽ tùy thuộc vào khả năng của chúng ta.
Tách mình ra khỏi những thứ an toàn của chúng ta – những thứ an toàn trần thế -, ngay lập tức, và đi theo Chúa Giêsu mỗi ngày: đó là chỉ dẫn mà Phêrô đưa ra cho chúng ta hôm nay bằng cách mời gọi chúng ta trở thành một Giáo-hội-đi-theo. Một Giáo-hội-đi-theo. Một Giáo hội muốn trở thành môn đệ của Chúa và thành người tôi tớ khiêm nhường của Tin Mừng. Chỉ bằng cách này, Giáo hội mới có thể đối thoại với mọi người, và trở thành một nơi đồng hành, gần gũi và hy vọng cho những người nữ người nam của thời đại chúng ta. Chỉ bằng cách này, ngay cả người ở xa nhất, thường đang nhìn chúng ta cách nghi ngờ hay dửng dưng, cuối cùng sẽ có thể nhận ra cùng với Đức Giáo hoàng Bênêđíctô: “Giáo hội là nơi gặp gỡ với Con Thiên Chúa hằng sống và, như thế, Giáo hội là nơi gặp gỡ giữa chúng ta” (Bài giảng Chúa Nhật II Mùa Vọng, ngày 10/12/2006).
Và bây giờ, chúng ta hãy đến với vị Tông đồ của các dân tộc. Nếu câu trả lời của Phêrô hệ tại ở việc đi theo, thì câu trả lời của Phaolô hệ tại ở việc loan báo, loan báo Tin Mừng. Đối với ngài cũng thế, mọi sự bắt đầu bằng ân sủng, theo sáng kiến của Chúa. Trên đường đi Damas, khi ngài đang kiêu hãnh bách hại các Kitô hữu, bị rào cản bởi xác tín tôn giáo của mình, thì Chúa Giêsu phục sinh đến gặp ngài và làm ngài mù lòa bằng ánh sáng của Người. Đúng hơn, nhờ ánh sáng này, Saolô nhận ra mình bị mù như thế nào. Bị nhốt kín trong sự kiêu ngạo về việc giữ luật cứng nhắc của mình, ngài khám phá ra nơi Chúa Giêsu sự hoàn thành mầu nhiệm cứu độ.
Giờ đây, ngài coi tất cả những an toàn của về mặt con người và tôn giáo của mình là “rác rưởi” so với sự cao cả là biết được Chúa Kitô (x. Pl 3, 7-8). Như thế, Phaolô đã cống hiến đời mình để khi khắp đất liền và biển khơi, các thành phố và làng mạc, không quản ngại khó khăn và bách hại, để loan báo Chúa Giêsu-Kitô. Nhìn vào câu chuyện của ngài, dường như càng loan báo Tin Mừng, ngài càng hiểu biết Chúa Giêsu. Việc loan báo Lời Chúa cho người khác cho phép ngài thấm nhập vào chiều sâu của mầu nhiệm Thiên Chúa, Đấng mà ngài đã viết “Khốn cho tôi nếu tôi không loan báo Tin Mừng!” (1Cr 9, 16); Đấng mà ngài tuyên xưng: “Đối với tôi, sống là Chúa Kitô”.
Do đó, thánh Phaolô nói với chúng ta rằng đối với câu hỏi “Chúa Giêsu là ai đối với tôi?”, chúng ta không trả lời bằng lòng sùng đạo sâu kín riêng tư để mặc chúng ta yên thân, mà không rung động bởi mối quan tâm mang Tin Mừng đến cho người khác. Thánh Tông đồ dạy cho chúng ta rằng chúng ta càng lớn lên trong đức tin và trong sự hiểu biết mầu nhiệm Chúa Kitô hơn nữa khi chúng ta loan báo và làm chứng cho Người. Và điều đó luôn xảy ra: khi chúng ta loan báo Tin Mừng, chúng ta được loan báo Tin Mừng. Đó là một kinh nghiệm hằng ngày: khi chúng ta loan báo Tin Mừng, chúng ta được loan báo Tin Mừng. Lời Chúa mà chúng ta mang đến cho người khác sẽ trở lại với chúng ta bởi vì, chúng ta cho đi bao nhiêu, chúng ta sẽ nhận được nhiều hơn bấy nhiêu (x. Lc 6, 38). Và điều đó cũng cần thiết cho Giáo hội ngày nay: đặt việc loan báo ở trung tâm. Trở thành một Giáo hội không bao giờ mệt mỏi lặp đi lặp lại với chính mình: “Đối với tôi, sống là Chúa Kitô” và “Khốn cho tôi nếu tôi không loan báo Tin Mừng”. Một Giáo hội cần loan báo Tin Mừng như cần dưỡng khí để thở; một Giáo hội không thể sống mà không thông truyền vòng tay yêu thương của Thiên Chúa và niềm vui của Tin Mừng.
Thưa anh chị em, chúng ta hãy mừng thánh Phêrô và Phaolô. Các ngài đã trả lời câu hỏi căn bản của cuộc sống – Chúa Giêsu là ai đối với tôi? – bằng cách đi theo Chúa Kitô và loan báo Tin Mừng. Thật đẹp khi lớn lên như một Giáo hội đi theo, như một Giáo hội khiêm tốn không bao giờ coi là đã thủ đắc được việc tìm kiếm Chúa. Thật đẹp khi trở thành một Giáo hội hướng ra bên ngoài, không tìm thấy niềm vui của mình nơi những thứ của thế gian nhưng trong việc loan báo Tin Mừng cho thế giới, để gieo vào lòng mọi người câu hỏi về Thiên Chúa. Mang Chúa Giêsu đến khắp mọi nơi, với lòng khiêm tốn và niềm vui: trong thành Rôma của chúng ta, trong các gia đình của chúng ta, trong các mối tương quan và các khu phố, trong xã hội dân, trong Giáo hội, trong chính trị, trên toàn thế giới, đặc biệt là ở những nơi có nghèo đói, suy thoái, sự gạt ra bên lề xã hội.
Và, hôm nay, khi một số anh em Tổng Giám mục của chúng ta lãnh nhận dây Pallium, một dấu hiệu của sự hiệp thông với Giáo hội Rôma, tôi muốn nói với họ: anh em hãy trở thành những tông đồ như thánh Phêrô và Phaolô. Anh em hãy trở thành những người môn đệ đi theo và những tông đồ loan báo, hãy mang lại vẻ đẹp của Tin Mừng đến mọi nơi, cho toàn thể Dân Thiên Chúa. Và cuối cùng, tôi muốn gởi lời chào thân ái đến Phái đoàn của Tòa Thượng phụ Đại kết, được gởi đến bởi người Anh rất yêu quý là Đức Bartôlômêô. Xin cảm ơn sự hiện diện của quý vị, xin cảm ơn: chúng ta hãy cùng nhau tiến bước trong việc đi theo và loan báo Lời Chúa, bằng cách lớn lên trong tình huynh đệ. Xin thánh Phêrô và Phaolô đồng hành và cầu bầu cho tất cả chúng ta.
*****************
BÀI GIẢNG NĂM 2024
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Hôm nay, lễ trọng kính hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, trong Tin Mừng Chúa Giêsu nói với ông Simon, mà Người đặt tên là Phêrô: “Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời” (Mt 16,19). Đây là lý do tại sao chúng ta thường thấy Thánh Phêrô được trình bày với hai chiếc chìa khóa lớn trong tay, như bức tượng ở Quảng trường này. Những chiếc chìa khóa đó tượng trưng cho thừa tác vụ thẩm quyền mà Chúa Giêsu đã giao phó cho ngài để phục vụ toàn thể Giáo hội. Bởi vì thẩm quyền là một việc phục vụ, thẩm quyền không phải là để được phục vụ, không phải độc tài.
Tuy nhiên, chúng ta hãy cẩn thận để hiểu rõ ý nghĩa của tất cả những điều này. Thật vậy, chìa khóa của Phêrô là chìa khóa Nước Trời, mà Chúa Giêsu không ví như một két sắt hay một căn phòng bọc thép, nhưng bằng những hình ảnh khác: một hạt giống nhỏ, một viên ngọc quý, một kho báu giấu kín, một nắm men (xem Mt 13,1-33), nghĩa là, như một điều gì đó quý giá và giàu sang, nhưng đồng thời lại nhỏ bé và kín đáo. Vì thế, để đạt được điều đó, điều cần thiết không phải là kích hoạt các cơ chế và ổ khóa bảo mật nhưng là trau dồi những đức tính như kiên nhẫn, để tâm, kiên trì, khiêm tốn và phục vụ.
Vì vậy, sứ mạng mà Chúa Giêsu giao phó cho Phêrô không phải là chặn cửa nhà, chỉ cho phép một số ít khách được chọn vào nhà, nhưng là giúp mọi người tìm được lối vào, trung thành với Tin Mừng của Chúa Giêsu. Tất cả, tất cả đều có thể vào.
Và Phêrô sẽ làm như vậy trong suốt cuộc đời của mình, một cách trung thành, cho đến khi tử đạo, sau khi chính mình kinh nghiệm được, dù với những khó khăn và nhiều lần sa ngã, niềm vui và sự tự do nảy sinh từ cuộc gặp gỡ với Chúa. Trước tiên, để mở cửa cho Chúa Giêsu, ông phải hoán cải, và hiểu rằng thẩm quyền là một sự phục vụ, và điều đó không hề dễ dàng đối với ông. Chúng ta hãy nghĩ đến câu chuyện: ngay sau khi ông nói với Chúa Giêsu: “Thầy là Đấng Kitô”, thì Thầy đã phải quở trách ông vì ông không chịu chấp nhận lời tiên báo về cuộc khổ nạn và cái chết của Người trên thập giá (xem Mt 16,21-23).
Phêrô nhận được chìa khóa Nước Trời không phải vì ông là người hoàn hảo, không, là một tội nhân; nhưng vì ông khiêm nhường và trung thực, và Chúa Cha đã ban cho ông một đức tin chân thực (x. Mt 16:17). Vì vậy, khi phó thác bản thân cho lòng thương xót của Thiên Chúa, Phêrô đã có thể nâng đỡ và củng cố anh em mình, như ông đã được yêu cầu (xem Lc 22,32).
Hôm nay chúng ta hãy tự hỏi: tôi có nuôi dưỡng, với ân sủng của Thiên Chúa, ước muốn bước vào Nước của Người, trở thành người bảo vệ chào đón người khác không? Và để làm được điều này, tôi có để mình được “mài dũa”, làm mềm mại, được uốn nắn bởi Chúa Giêsu và Thánh Thần của Người, Đấng sống trong chúng ta, mỗi người chúng ta không?
Xin Mẹ Maria, Nữ vương các Tông đồ, và các Thánh Phêrô và Phaolô, qua lời cầu bầu của các ngài, giúp chúng ta trở thành người hướng dẫn và nâng đỡ lẫn nhau đến gặp gỡ Chúa Giêsu.
(Bài giảng của ĐHY. Phêrô Nguyễn Văn Nhơn)
… “Phần các con, các con nghĩ Thầy là ai?” Simon Phêrô thưa rằng: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.
Anh chị em thân mến,
Có thể nói Chúa Giêsu không quan tâm đến dư luận nghĩ như thế nào về Ngài: Là Gioan Tẩy Giả mà Hêrôđê giết chết nay sống lại, là Elia, Giêrêmia, một tiên tri nào đó … điều đó không quan trọng. Người đời tự do nhận hay khước từ Chúa Giêsu, việc đó từ khi Ngài xuống thế gian cho đến bây giờ vẫn luôn xảy ra, chẳng những thế người ta còn gán cho Ngài những danh xưng, những đức tính hay những tật xấu … việc đó cũng không quan trọng.
Quan trọng là chúng ta, những người Ngài đã kêu gọi và được thanh tẩy trong Bí Tích Rửa Tội, Ngài đã ban cho Thần Khí của Ngài, Ngài đã dùng Lời và Mình Máu Thánh Ngài để nuôi dưỡng, Ngài đã không ngớt yêu thương và chăm sóc … Chúa sẽ hỏi chúng ta: “Còn con, con nghĩ Thầy là ai?”
Qua bài Tin Mừng Mt 16, 13 – 19: Hỏi về dư luận chỉ là cớ để Chúa Giêsu bắt vào câu chuyện, còn vấn đề chính là dành cho các tông đồ: “Chúng con nghĩ Thầy là ai?” sau khi Phêrô trả lời, Chúa Giêsu nói ngay: “Chẳng phải (điều con tuyên xưng) do xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con, nhưng là Cha Thầy, Đấng ngự trên trời”. Chính Chúa Cha đã mạc khải, đã chọn, đã tỏ cho thấy con có đức tin đó, cho nên Thầy chọn con, con trở nên tảng đá vững chắc, Thầy sẽ xây dựng Giáo Hội của Thầy trên con và Giáo Hội sẽ không bao giờ lay chuyển…
Thưa anh chị em,
Kể từ giây phút đó, dường như Chúa Giêsu bắt đầu đổi hướng trong việc rao giảng và giáo huấn. Ngài dành nhiều thì giờ cho nhóm Mười Hai, Ngài dạy dỗ, chỉ bảo cho các ông, vì Ngài biết rằng đây là nhóm người mà Chúa Cha đã chọn, đã trao cho Ngài và từ những con người này (những con người còn đầy dẫy những khuyết điểm, yếu đuối…) Ngài xây dựng làm nền tảng cho Hội Thánh. Trải qua bao nhiêu thử thách, không quyền lực nào có thể lay chuyển được Hội Thánh mà Ngài đã xây dựng. Chúng ta chính là Hội Thánh đó, là những con người Ngài xây dựng và luôn gìn giữ.
Trở lại với bài sách Công Vụ (Cv 12, 1 – 11), tôi nghĩ rằng dù trình bày như thế nào, chúng ta cũng không quên trọng tâm của câu chuyện: Thiên Chúa giữ lời Ngài nói qua miệng Chúa Giêsu “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. Lời Ngài được thực hiện khi thiên thần giải thoát Phêrô khỏi ngục tù cách lạ lùng (Phêrô được Chúa tuyển chọn và Phêrô được Chúa trao cho quyền tha – buộc tội lỗi, và trong chức năng đó, Chúa gìn giữ Phêrô…). Giáo Hội trải qua 2000 năm với bao nhiêu thử thách nhưng vẫn là Giáo Hội của Đức Kitô, ngày hôm nay có thể mang nhiều sắc thái khác nhau, những vị Giáo Hoàng khác nhau, nhưng vẫn là một Giáo Hội duy nhất, Giáo Hội mà Chúa Giêsu đã thiết lập trên nền tảng Phêrô. Chúng ta thấy Lời Chúa vẫn luôn được thực hiện,
Chương trình của Thiên Chúa rất mầu nhiệm, phong phú và đa dạng. Chúng ta nghĩ rằng với thánh Phêrô, với đoàn tông đồ như thế là đã đủ và từ đó cứ tiếp nối để Giáo Hội trường tồn, nhưng không, bên cạnh đó Chúa đã tuyển chọn Phaolô cách rất đặc biệt: Từ con người hăng hái bắt đạo, Chúa đã biến đổi lòng dạ và làm cho Phaolô trở nên tông đồ nhiệt thành.
Vậy vai trò của Phaolô trong Hội Thánh lúc bấy giờ là gì? (Đọc trong những đoạn kinh Phụng Vụ để thấy Thiên Chúa nhiệm mầu trong chương trình của Ngài) Phêrô là người tuyên xưng đức tin, trên Phêrô đức tin được xây dựng; Phaolô là người làm sáng tỏ đức tin, là người đem đức tin đó gieo trồng khắp mọi nơi. Hai khía cạnh đó luôn có Trong Hội Thánh, sứ mạng củng cố đức tin, xây dựng nội bộ và sứ mạng truyền giáo, sứ vụ đến với muôn dân … Ngày hôm nay chẳng những trong lòng Giáo Hội, chẳng những ở Giáo Hội địa phương mà ngay mỗi Giáo Xứ, mỗi cộng đoàn và mỗi người luôn phải sống hai khía cạnh đó: một đàng phải luôn đào sâu đức tin, sống gắn bó với Chúa nhiều hơn, đàng khác chúng ta không chỉ được sống cho mình mà phải biết chia sẻ đức tin cho anh em, càng biết đến với anh em, càng biết chia sẻ đức tin, biết loan báo Tin Mừng thì đức tin chúng ta càng vững chắc. Đó là chương trình của Thiên Chúa trao ban cho mỗi người chúng ta. Có thể chúng ta nói mình yếu đuối, tọi lỗi, nhưng thành thật mà nói, chắc chúng ta không tội lỗi hơn thánh Phaolô, cũng không tội lỗi hơn thánh Phêrô; còn nếu nói chúng ta yếu đuối thì tôi nghĩ rằng thánh Phaolô và thánh Phêrô còn có lúc yếu đuối hơn chúng ta. Thiên Chúa đã tuyển chọn và làm những việc lạ lùng với những con người tội lỗi, yếu đuối đó. Chúng ta cũng được Chúa tuyển chọn và ban Thánh Thần của Ngài, thế thì tại sao chúng ta lại không đi trên con đường đó và không can đảm nhận lấy trách nhiệm và sứ vụ đó?
Cử hành trọng thể lễ hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, chúng ta cám ơn Chúa đã yêu thương và xây dựng Hội Thánh để Ngài luôn hiện diện giữa thế gian. Nhờ có Hội Thánh, chúng ta được tiếp xúc với Thiên Chúa và được dạy dỗ để đi trên con đường của Ngài. Tin vào điều đó nhưng đồng thời cũng tin Chúa trao cho chúng ta (ở trong Hội Thánh) sứ vụ làm chứng cho Ngài, vì Ngài không chỉ muốn cứu độ một nhóm người, nhưng Ngài muốn tình yêu cứu độ của Ngài phải được loan báo cho muôn dân. Chúng ta là những người mà Ngài đang cần đến, là những người mà Ngài tuyển chọn để thi hành sứ mạng đó.
Mừng lễ hai thánh tông đồ, chắc chắn chúng ta thêm niềm tin trong Hội Thánh, thêm niềm tin trong sứ vụ mà Chúa đã trao cho Hội Thánh. Noi theo gương hai Ngài, chúng ta luôn tuyên xưng cách vững chắc “ Ngài là Đức Kitô, là Con Thiên Chúa hằng sống”, Ngài là Đấng đã đến trong thế gian để cứu chuộc nhân loại, Ngài đã xây dựng và đã sai Hội Thánh tiếp nối công việc của Ngài. Hiểu và tin được điều đó, chúng ta đã góp phần xây dựng Hội Thánh trường tồn và lan rộng cho đến tận cùng thế giới.
(Trích từ: Làm nụ hoa trắng – ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống)
PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ
HAI VỊ THÁNH CỦA TINH THẦN HIỆP NHẤT
Phêrô và Phaolô khác nhau nhiều lắm, nhưng một khi đã được biến đổi bởi niềm tin Phục sinh và nguồn ơn Thánh Thần, hai vị đã trở nên những con người mới, những phần tử hàng đầu xây dựng hiệp thông Giáo hội. Mừng lễ chung hai vị cũng là lúc thể hiện lòng yêu mến và phó thác. Xin hai vị luôn nâng đỡ Giáo hội hiệp thông.
***
Có lần đến mừng bổn mạng một vị Linh mục trọng tuổi. Ngài nói đùa rằng: “Tội nghiệp hai Thánh Phêrô và Phaolô quá! Những ông thánh bà thánh khác nhỏ hơn, thế mà lại được đứng tên một mình độc lập tự do hạnh phúc trong một ngày lễ. Đàng này Phêrô và Phaolô tiếng là hai thánh lớn của cả Giáo hội, thế mà lại phải chen vai đứng chung với nhau chặt chội trong một ngày lễ, dẫu đó là ngày lễ lớn. Ngài cười và phát biểu tiếp: Thà làm lớn trong một ngày lễ nhỏ còn hơn là Phêrô và Phaolô lại chịu làm nhỏ trong một ngày lễ lớn”.
Dĩ nhiên linh mục ấy chỉ nói đùa thôi. Nhưng trong cái tưởng như đùa cợt mua vui giữa các linh mục với nhau biết đâu lại chẳng ẩn chứa một chút nghiêm túc, một thoáng lắng sâu gợi mở cho suy tư về ngày lễ, để rồi khi nhìn vào chân dung của Phêrô và Phaolô bỗng chợt nhận ra dụng ý của Giáo hội; mừng hai Thánh Phêrô và Phaolô chung trong cùng một lễ là muốn nói lên tinh thần hiệp nhất, một tinh thần đã làm nên sự sống và mãi còn là sức sống của Giáo hội.
Nói đến hiệp nhất là nói đến một tinh thần gặp gỡ khởi đi từ những cái khác biệt. Phêrô và Phaolô khác nhau nhiều lắm.
Về thành phần bản thân: Phêrô là dân chài lưới chuyên nghiệp, cuộc sống chỉ diễn ra quanh quẩn nơi biển hồ Tibêria. Tác phong ngài bình dân, tính tình ngài bộc trực, có sao nói vậy, thậm chí đến độ thô thiển mộc mạc. Mặc dù có bề dày kinh nghiệm tuổi tác và ngành nghề, nhưng kiến thức về đời sống của ngài có chăng cũng không lớn hơn diện tích biển hồ. Còn Phaolô, ngược lại, là con nhà trí thức được ăn học đàng hoàng, đã từng có dịp đi lại đó đây. Kiến thức rộng, gốc gác Biệt phái nhiệt thành với truyền thống cha ông, đầy năng lực, tuổi trẻ tài cao và cũng không thiếu tham vọng cho tương lai, nên Phaolô mới nổi máu anh hùng “vấy máu ăn phần” trong việc bách hại các Kitô hữu thuở ban đầu.
Về ơn gọi theo Chúa Giêsu: Phêrô thuộc hệ chính quy, là một trong những tên tuổi mau mắn đáp lời theo Chúa Giêsu từ những ngày đầu sứ vụ công khai của Người. Nhanh nhẩu, mau mắn, hăng hái, ông thường thay mặt cho anh em để lên tiếng phát biểu. Được đặt làm đầu Nhóm Mười Hai đặc tuyển tức là Thủ quân đội tuyển Tông đồ với một bề dầy thành tích đáng gờm. Trong khi đó, Phaolô chỉ là đàn em, đã chẳng được theo trực tiếp Chúa Giêsu lại còn khét tiếng phản động đến nỗi trên đường đi Đamas để bố ráp tín hữu, tiếng từ trời đã phải can ngăn “Ta là Giêsu ngươi đang bắt bớ “. Nhưng đó cũng là khởi đầu của ơn gọi để Phaolô nghĩ lại sám hối mà đầu quân phục vụ Giáo hội. Chính Phaolô đã có lần thú nhận chẳng giấu giếm chi “Tôi là dân sinh sau đẻ muộn”. Không mặc cảm.
Về truyền giáo: Nếu Tông đồ là kẻ được sai đi truyền giáo, thì tuỳ theo khả năng cá nhân, mỗi người lại phục vụ theo cung cách của mình. Phêrô chủ trương “đánh bắt tại chỗ’, phục vụ Kitô hữu đa phần gốc Do Thái trở lại, nên thiết lập toà Antiôkia để dễ dàng điều hành quy tụ là chuyện bình thường. Chính tại Antiôkia, lần đầu tiên trong lịch sử Công giáo, các tín hữu nhận lấy danh xưng: ‘Kitô hữu’. Còn Phaolô lại theo chủ trương “ đánh bắt ngoài khơi”, ra khơi để truyền giáo với những chuyến hải trình không mệt mỏi. Trẻ trung, khỏe mạnh, học rộng, biết nhiều đã trở thành lợi thế cho ngài hành trình về phía trước Dân ngoại.
Chủ trương khác nhau nên có lúc không tránh hết được những va chạm. Đã có to tiếng về vấn đề cắt bì hay không cắt bì cho những người ngoại giáo gia nhập Kitô giáo. Đã có hiểu lầm ấm ức khi đối mặt giữa một bên là cầm cương nẩy mực đạo giáo và một bên là quan tâm đến những nhu cầu mục vụ chính đáng của tín hữu gốc lương tâm. Tuy nhiên khi hiểu ra, hai đấng đã tay bắt mặt mừng trong một tinh thần hiệp nhất lạ lùng!
Khởi đầu sự nghiệp Tông đồ tiếp bước Chúa Kitô, nếu hai vị đã hiệp nhất trong cùng một lòng chân thành tuyên xưng thì cũng hiệp nhất trong cùng một tâm huyết nhiệt thành rao giảng để mãi mãi hiệp nhất trong cùng một đức tin trung thành minh chứng.
Cùng chết tại Rôma. Cùng chịu tử đạo dù hình thức khác nhau trong những thời điểm khác nhau. Cùng trở thành nền đắp xây tòa nhà Hội thánh. Cùng trở nên biểu tượng hiên ngang của niềm tin Công giáo, để rồi hằng năm cứ vào ngày 29 tháng 6 lại cùng được mừng chung trong một ngày lễ. Chừng đó chữ “cùng” cũng đủ đề Phêrô gần gũi Phaolô và để Phaolô đứng chung với Phêrô như hình với bóng. Mình mới ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai. Mãi mãi Phêrô và Phaolô là tượng đài bất khuất và là bài ca không quên của tinh thần hiệp nhất trong Giáo hội. Tinh thần ấy hôm nay chỉ ra rằng.
Hiệp nhất không phải là đồng nhất theo kiểu đồng bộ nhất loạt ai cũng phải như ai, giống đồng phục của một hội đoàn hay như trong sản xuất hàng hoá đồng loạt. Nếu máy cùng một đời thì cũng cùng kiều dáng và chất lương như nhau. Hiệp nhất là khởi đi từ những cái khác nhau, những cái dị biệt, để hiểu biết tôn trọng và gắn bó hợp tác chung xây. Như thế mới phong phú đa chiều đa diện đa dạng, như những thành phần khác nhau làm nên một tổng hợp duy nhất hài hoà, như những chi thể khác nhau kết nên một thân mình, như những nốt nhạc cung bậc khác nhau làm thành một hoà âm tròn đầy.
Hiệp nhất cũng không phải là cầu toàn mười phân vẹn mười gọt giũa kỹ càng theo một hình mẫu, làm như tuỳ thuộc hoàn toàn vào ý chí con người mà không cần biết đến những biến số mang tính quyết định khác. Xây dựng một công trình vật thể như nhà cửa phòng ốc không ưng ý, người ta có thể đập bỏ để làm lại một cái mới vừa ý hơn, nhưng xây dựng một công trình phi vật thể nhất là lại liên quan đến yếu tố nhân sự thì không thể một sớm một chiều mà phá huỷ hoặc làm lại được. Nếu “duy ý chí “ đã là một lực cản đáng buồn cho sự tiến bộ, thì ở đây xem ra lại còn đáng buồn và đáng ngại hơn.
Hiệp nhất là một công trình được xây dựng với nhiều nỗ lực của con người dưới sự dẫn dắt linh động của ơn thánh và chí bền khát khao của mọi thế hệ. “Khác nhau trong điều phụ, hiệp nhất trong điều chính, yêu thương trong tất cả”, đó là khuôn vàng thước ngọc cho tinh thần hiệp nhất trong Giáo hội.
Nhưng đa dạng cũng đi liền với đa đoan. Không thể có hiệp nhất mà không vất vả. Hiệp mà không nhất chỉ là khiên cưỡng ép duyên bất hạnh ngục tù. Nhất mà không hiệp sẽ cứng cỏi lạnh lùng tự đủ thờ ơ. Hiệp để trở nên nhất và nhất mà vẫn luôn cần chất keo tinh thần của hiệp, đó mới là giá trị làm nên nét đẹp Kitô giáo. Nếu trong tình yêu hôn phối, những điều giống nhau là để hiểu nhau, còn những điểm khác nhau mới để yêu nhau, thì trong hiệp nhất Giáo hội cũng vậy, những điều giống nhau là nền tảng gặp gỡ, còn những điểm khác biệt lại là điều kiện tự nhiên để trở thành đa dạng, cho dẫu nhiều khi vì quá chú tâm đến những khác biệt người ta đã phải gạt lệ nhìn nhau xa cách. Hai cực nam châm giống nhau sẽ đẩy nhau, nhưng hai cực khác nhau mới thu hút gắn bó với nhau.
Tóm lại, Phêrô và Phaolô khác nhau nhiều lắm, nhưng một khi đã được biến đổi bởi niềm tin Phục sinh và nguồn ơn Thánh Thần, hai vị đã trở nên những con người mới, những phần tử hàng đầu xây dựng hiệp thông Giáo hội. Mừng lễ chung hai vị cũng là lúc thể hiện lòng yêu mến và phó thác. Xin hai vị luôn nâng đỡ Giáo hội hiệp thông.
(Trích từ: HẠT NẮNG VÔ TƯ – ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống)
Không phải vô tình mà trang Tin Mừng hôm nay được chọn đọc trong dịp lễ hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô dẫu chỉ đề cập đến một mình Phêrô. Cũng không phải vô tình mà câu trả lời của Phêrô lại được đánh giá cao với điểm tối ưu kèm theo huy chương vàng là chiếc chìa khoá đóng mở Cửa Trời.
Vâng, không phải vô tình, mà là hữu ý muốn tập chú vào một câu hỏi lớn cũng là cốt lõi của mạc khải Kitô giáo. Câu hỏi ấy là cửa ngõ dẫn tới đời sống đức tin. Câu hỏi ấy luôn chờ lời đáp trả dứt khoát cho một vận mệnh đời đời. Thế nên, mãi mãi còn là một bận tâm của toàn Giáo Hội và của từng tín hữu. Câu hỏi ấy là “Đức Giêsu là ai?”
Trong ngày lễ hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô hôm nay, ta thử nhận diện đôi nét về câu hỏi quan trọng này.
Trích đoạn Tin Mừng chính là câu trả lời mang tính tuyên xưng của Phêrô. Trong khi các Tông đồ khác còn mải mê tìm kiếm tư liệu trong những khuôn mặt nổi tiếng và tên tuổi quen thuộc của dư luận, thì một mình Phêrô bằng kỹ thuật cá nhân đã đột phá bứt lên để tuyên xưng “Đức Giêsu là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16).
Quả là một ý kiến chẳng giống ai, nhưng lại là lời tuyên xưng đắt giá có một không hai. Phêrô nhận ra trong Giêsu “con người” có một Giêsu “Thiên Chúa”, ông nhận ra trong nhân tính bình thường như mọi người của Đức Giêsu có một thần tính cao vượt rất riêng của vị Thiên Chúa làm người. Chả thế mà ông đã được Đức Giêsu khen tặng hạnh phúc và tín nhiệm gửi trao chìa khoá Nước Trời.
Còn Phaolô trên đường đi Đamas, khi gặp ánh sáng lạ từ trời đã hốt hoảng kêu lên “Ngài là ai?” để nhận lấy lời đáp bất ngờ “Ta là Giêsu ngươi đang bắt bớ” (Cv 9,5).
Dẫu được đặt ra bằng một cách khác với phêrô nhưng vẫn là câu hỏi muôn thuở “Đức Giêsu là ai?” để Phaolô bằng cõi lòng tin nhận đột phá bỗng hiểu ra rằng: À thì ra, Giêsu ánh sáng rạng ngời làm ông ngã ngựa cũng chính là Giêsu đồng hoá với các tín hữu ông đang truy lùng bắt bớ. Có nghĩa là trong Giêsu thần tính có một Giêsu đã mang lấy bộ mặt nhân tính của cả Giáo Hội lữ hành. Thảo nào, ông đã bỏ lại sau lưng tất cả dĩ vãng sự nghiệp công danh, để dấn bước phiêu lưu đi theo Đấng mang tên Giêsu lạ đời ấy.
Khám phá ra thần tính trong nhân tính như Phêrô, hay ngược lại, khám phá ra nhân tính trong thần tính như Phaolô đều là những cách tuyên xưng đột phá cho câu hỏi “Đức Giêsu là ai?”
Đức Giêsu thật lạ lùng. Không biết Người thì thôi, chứ đã biết Người thì không thể dửng dưng thờ ơ lạnh nhạt được nữa, nhất là khi biết Người bằng lời tuyên xưng đột phá mang tính bản thân như Phêrô và Phaolô thì còn quyết liệt hơn. Không chỉ đáp lại bằng mặt bằng lòng, mà còn bằng cả đời sống lòng thòng về sau. Đấy chính là ngã rẽ niềm tin.
Phêrô sau lời tuyên xưng không còn sống như Simon lúc trước được nữa. Ông đã được biến đổi. Ông đã vượt lên chính mình kinh qua những thử thách, cho dẫu đã có lúc dường như quên Chúa xa Chúa thậm chí chối Chúa, nhưng vẫn là một Phêrô khiêm nhường và kiên cường trong ơn sám hối, để gắn bó đầy trách nhiệm vào Đức Giêsu mà ông không ngừng rao giảng.
Phaolô sau lần ngã ngựa cũng không còn sống như Saolô lúc trước được nữa. Đổi mới tất cả và trọn vẹn bằng suy tư giáo lý, bằng gặp gỡ mục vụ, bằng hành trình truyền giáo, và bằng xây dựng Hội Thánh không mỏi mệt. Đã có những khó khăn như bị hiểu lầm nghi kị, chịu nghịch cảnh cầm tù… nhưng chính lúc ấy lại hiên ngang một phaolô trong dáng đứng kiên cường gắn bó đầy nhiệt thành với Đức Giêsu mà ông cảm thấy luôn bị thôi thúc phải loan truyền.
Như thế đó, Phêrô và Phaolô đã trả lời cho câu hỏi “Đức Giêsu là ai?” bằng cả đời sống của mình.
Đó là câu hỏi trí mạng, để trả lời đến cùng người ta phải đánh cá cuộc đời, phải dám liều mạng sống để mà minh chứng. Hình như đây là một quy luật: chính Đức Giêsu đã lấy mạng mình để minh chứng tình yêu lớn nhất Người dành cho con người, thì con người cũng cần hiến thân một cách nào đó mà tuyên xưng Người là Thiên Chúa hằng sống.
Và đây cũng chính là điều gặp gỡ rõ rệt nhất, hào hùng nhất, bất khuất nhất giữa Phêrô và Phaolô. Chẳng ai bảo ai, mỗi người một ngả, nhưng cuối đời cả hai đã tới Rôma, và giữa những cơn bách hại khốc liệt dưới triều Nêron, Phêrô vào năm 64 và Phaolô năm 67, cả hai đã đánh đổi mạng sống như để tuyên tín cho muôn đời rằng: Đức Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật, đó là đức tin của chúng tôi, đó là đức tin của Hội Thánh, và chúng tôi hãnh diện tuyên xưng đức tin ấy.
Truyện kể rằng: Phêrô bị đóng đinh ngược đầu xụống đất, cho mắt ngài thuận chiều hướng đến trời cao mãi mãi chiêm ngưỡng thần tính của Đức Giêsu, Đấng mà ngài đã từng hân hạnh đụng chạm đến. Và truyện cũng kể rằng: Phaolô bị xử trảm giữa lúc nghe thì thầm bên tai lời quen thuộc của Đấng năm nào ngài đã gặp trên đường Đamas: “Ta là Giêsu mà vì Ta, ngươi chịu bắt bớ. Nhưng can đảm lên, ơn Ta đủ cho ngươi”.
Tóm lại, “Đức Giêsu là ai?” Câu hỏi ấy Phêrô và Phaolô đã trả lời bằng lời chân thành tuyên xưng, bằng đời nhiệt thành rao giảng và bằng cái chết trung thành minh chứng, để ở thượng nguồn đức tin Kitô giáo, các ngài trở nên “người mẫu” cho các tín hữu mọi thời, và trên Thiên quốc, các ngài là những “nhà bảo trợ” cho toàn thể Hội Thánh.
“Đức Giêsu là ai?” Đó cũng là câu hỏi đặt ra cho ta hôm nay để ta lặp lại niềm tin yêu hy vọng nơi thần tính và nhân tính của Đức Giêsu Kitô. Người là Thiên Chúa để ta tôn thờ kính yêu thao thức kiếm tìm gặp gỡ gắn bó. Người ở trong Bí Tích, Phụng Vụ, Thánh Kinh, THánh Thể cho ta tìm hiểu lãnh nhận. Người hiện diện nơi người đồng loại đồng bào đồng đạo đồng hương đồng thời đồng giáo xứ, đồng khu phố…để gọi ta tôn trọng thương mến quan tâm chia sẻ cảm thông liên đới trách nhiệm. Người có mặt trong Giáo Hội, nơi lòng xã hội. Người có đó, trong đạo và giữa đời. Người có đó, trong anh chị em, trong tôi và chúng ta. Người hôm qua hôm nay và mãi mãi “là Thiên Chúa thật và là người thật”.
Trả lời cho câu hỏi “Đức Giêsu là ai?” như lời “Kinh Tin Kính” đẹp thôi, nhưng trả lời bằng cuộc đời dám sống và dám chết tưởng không dễ nói dễ làm dễ ưa dễ chịu. Nhưng như thế mới là hạnh phúc, thứ hạnh phúc chỉ được trao ở cuối đường trung thành sống đạo, như chiếc chìa khoá vàng và thanh gươm vàng mà hai tiền đạo anh dũng Phêrô và Phaolô đã nhận được ở cuối đường sự sống giữa sân cỏ cuộc đời.
Xin Phêrô và Phaolô giúp ta sống câu hỏi “Đức Giêsu là ai?” một cách cụ thể, để vượt lên chính mình, ta sẽ có ngày gặp được hạnh phúc của những kẻ tin, và dẫu tương lai vẫn còn đó nhiều bất ngờ bất ổn bất trắc, nhưng đã ánh lên niềm hy vọng, vì ta vẫn có đó hai nhà bảo trợ sẵn sàng dẫn đường đi tới bến bờ bình an. Lạy hai thánh Tông đồ phêrô và Phaolô, xin cầu cho chúng con.
PHÊRÔ & PHAOLÔ: HAI VỊ THÁNH CỦA LÒNG SÁM HỐI
(Trích từ: HẠT NẮNG VÔ TƯ – ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống)
Hôm nay Giáo Hội mừng kính hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô. Đó là hai khuôn mặt vĩ đại ở thượng nguồn niềm tin Kitô giáo, những chứng nhân tiên khởi và sáng giá của Đức Kitô Phục Sinh. Đó cũng là hai cột trụ vững chắc nâng đỡ Giáo Hội trải qua biết bao thăng trầm dọc dài lịch sử hai mươi thế kỉ nay. Đó còn là hai vị thánh “cả” (thánh lớn, thánh vĩ đại) đối với mắt nhìn và lòng sùng kính của mọi tín hữu.
Chỉ nhìn những nét cao cả, người ta có thể nghĩ rằng các ngài ở quá xa trong thời gian, ở quá cao trong cương vị, và có nguy cơ ở bên lề nhịp sống Giáo Hội; trong khi đời sống và ơn gọi của hai Đấng xem ra lại rất gần với đời kẻ tin. Trong Thánh lễ vọng mừng kính hôm nay, xin được nhìn Phêrô và Phaolô như hai vị thánh của lòng sám hối.
Phêrô qua trang Tin Mừng hôm nay xuất hiện ở đỉnh cao yêu mến đến nỗi đã được Chúa Giêsu tín nhiệm gửi trao đoàn chiên Giáo Hội. Nhưng đời sống của ngài đã có những bóng tối tội lỗi phủ trùm. Chỉ sau phút tuyên xưng đức tin để đời, ngài đã bị Chúa Giêsu quở trách là “Satan hãy xéo đi” khi có ý ngăn cản Người lên Giêrusalem để chịu nạn. Rồi khi đang ung dung bước trên ngọn sóng đến với Chúa Giêsu, thì vì hụt hẫng lòng tin, ngài đã bị nhấn chìm trong làn nước.
Nhất là trong thảm kịch của Đấng Cứu Thế, Phêrô xuất hiện trong một dáng dấp khó thương hơn bất cứ Tông đồ nào. Ngủ vùi trong vườn Cây Dầu lúc Chúa hấp hối, đó là tội quên Chúa. Rút gươm chém đứt tai tên đầy tớ vị thượng tế, đó là tội không vâng theo ý Cha. Sợ quá bỏ ra khi thấy Chúa bị bắt, đó là tội lìa xa Chúa. Và chối Chúa ba lần trước mặt người tớ gái, đó là tội phản bội. Rõ ràng Phêrô là người đã biết đến tội.
Phaolô cũng thế, trước khi là vị Tông đồ nổi tiếng, ông đã là một người khét tiếng trong dư luận tín hữu thời sơ khai đến nỗi nghe đến tên ông người ta phải trốn chạy như chạy tà. Ông là kẻ bách hại đạo Công Giáo trước bất cứ ai. Tuổi trẻ ông săn lùng các tín hữu. Thế giá ông đe doạ họ. Bàn tay ông đã từng vấy máu các Thánh Tử Đạo tiên khởi. Ông ghét đạo đã đành, lại còn tự nguyện xin lệnh đi ruồng đi bố ráp những người theo đạo nữa. Quả thật, Phaolô là kẻ đã có kinh nghiệm về tội.
Nhưng điều quan trọng không phải là kể tội các ngài cho nhiều, mà là khởi đi từ tình trạng tội luỵ ấy để nhận ra, một khi đã được Chúa đánh động, Phêrô và Phaolô đã quyết chí tìm về và hết mình sống cho sứ mạng được trao phó.
Phêrô sau biến cố Phục Sinh đã là một Phêrô khác hẳn. Được hoàn toàn biến đổi: nên mới nên mạnh, nên lành nên trong, nên thông nên sáng, làm tiền đề để nên rạng ngời thánh đức hơn. Ngài đã thể hiện vai trò Tông đồ trưởng với tầm cao tương xứng của tinh thần trách nhiệm, và đã chu toàn sứ mạng thủ lãnh Giáo Hội Công Giáo với nét đẹp của dạ can trường. Để rồi cuối cùng chịu án đóng đinh tại Rôma làm sáng lên hình ảnh bất khuất của một niềm tin vào Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa hằng sống. Nhờ sám hối, Phêrô đã nên thánh.
Còn Phaolô thì sau biến cố trên đường Đamas, nơi ông không còn giữ lại điều gì cũ nữa, mà tất cả đã được biến đổi. Nếu trước đây nhiệt tình cộng với ngu dốt về đạo đã trở thành phá hoại và gây khó khăn không ít cho Giáo Hội, thì sau này chính lòng nhiệt thành ấy cộng với ơn thánh và óc cầu tiến, Phaolô đã trở nên mẫu người không ai theo kịp về việc xây dựng Giáo Hội.
Nhiệt thành yêu Chúa Kitô, nhiệt thành yêu mến Tin Mừng và nhiệt thành đến ngổ ngáo trong việc truyền giáo. Tung hoành ngang dọc trên những cánh đồng Dân ngoại, để mỗi ngày đem về cho Chúa nhiều tâm hồn hoán cải. Cuối cùng, cũng chính tại Rôma, Phaolô đã bị xử trảm để mãi còn âm vang tiếng nói cao rao lòng nhiệt thành đến độ sẵn sàng hiến dâng mạng sống vì Tin Mừng cứu độ. Nhờ sám hối, Phaolô cũng trở nên đại thánh.
Nghiêng mình trước hai vị thánh đáng kính trong Phụng Vụ Thánh lễ hôm nay, tín hữu bỗng hiểu ra rằng: nét cao cả hai Đấng có được không phải là điều đương nhiên hay do tính tự nhiên, nhưng đã được đánh đổi bằng cả cuộc đời sám hối và không ngừng kêu gọi người ta sám hối.
Nếu trong thư của Phêrô, có lần chép: “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu căng, nhưng ban ơn cho người khiêm nhu” (1 Pr 5,5), thì đó là vì ngài đã từng kinh nghiệm trong vai trò của nhà lãnh đạo sám hối tự nhìn vào mình, và chắc chắn đó là rút ruột tâm sự của một đời tay hòm chìa khoá Nước Trời, luôn tỉnh táo vật lộn với chính mình để vươn lên trong ơn thánh Chúa.
Và nếu trong thư của Phaolô đã nhiều lần kêu gọi: “Hãy giũ bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới” (Ep 4,24), thì đó chẳng phải là lời khuyến thiện bờ môi chót lưỡi, mà chính là khởi đi từ một chuyện lòng rất riêng của một con người đã kinh qua chặng đường gạn đục khơi trong từ bỏ cái cũ kỹ tội lỗi để bước sang cái mới mẻ trẻ trung tuyệt vời.
Thì ra cái cao cả là cái phải trả giá bằng dò tìm trong hoán cải, là cái phải khổ công thắng vượt mà vươn lên, là cái phải kiểm tra xây dựng cân chỉnh không ngừng. Không biết có nên phát biể rằng: hôm nay Phêrô và Phaolô cao cả bao nhiêu là vì hôm qua đã sám hối bấy nhiêu. Giống như những ngôi nhà cao tầng đứng vững là vì có móng nền được chôn sâu trong lòng đất.
Tạ ơn Chúa đã không gọi một vị thánh lý lịch trong sạch hoàn toàn để đứng đầu Giáo Hội và một vị thánh chưa kinh nghiệm hoán cải để rao giảng Tin Mừng, mà đã thương chọn gọi hai vị sám hối để hôm nay nên Thánh cả rạng ngời. Ý nghĩ và tâm tình ấy đã nên nguồn cổ vũ cho đời sống tín hữu.
Để thêm tin tưởng: tại sao tôi phạm tội hoài? Tại sao trong Giáo Hội thánh thiện vẫn còn đó nhưng tội nhân? Bởi vì bản chất Giáo Hội là thánh, nhưng trong cuộc lữ hành vẫn cưu mang những kẻ có tội cần ơn sám hối. Điều quan trọng là biết trỗi dậy vươn lên kìa. Không phải vì mạnh mẽ mà người ta trỗi dậy được, nhưng vì trỗi dậy được người ta trở nên mạnh mẽ.
Để thêm hy vọng: tội lỗi quá làm sao nên thánh? Đừng lo. Bằng dạn dày kinh nghiệm, Phêrô và Phaolô đã là “đầu xuôi” để ta hôm nay nếu biết sám hối cũng trở nên “đuôi lọt” như các ngài, và nhờ lời chuyển cầu của hai vị cột trụ Hội Thánh, ta được thêm chí bền mà thắng lướt. Không thánh nhân nào không có quá khứ, chẳng tội nhân nào không có tương lai.
Để thêm yêu mến: Phêrô và Phaolô, hai gương mặt cao cả, nhưng không ở cao ở xa ở ngoài để lạnh lùng nhìn đời bằng nửa con mắt. Trái lại, mãi mãi các ngài vẫn ở trong Giáo Hội để ân cần gần gũi với mọi tâm hồn và sẵn sàng đỡ nâng dìu về đường ngay nẻo chính. Thanh gươm Phaolô chiến đấu giúp ta lìa xa tội lỗi, và chìa khoá Phêrô nhẹ nhàng mở ra cho ta cánh cửa Nước Trời.
(Suy niệm của ĐGM. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm – Trích trong Giải Nghĩa Lời Chúa)
HỦY BỎ CON NGƯỜI CŨ ĐỂ MẶC LẤY CON NGƯỜI MỚI
Suy Niệm:
Kinh Thánh có nhiều đoạn về hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô; nhưng phụng vụ đọc cho chúng ta nghe 3 bài này trong thánh lễ hôm nay. Chắc chắn phải có một hay nhiều ý tứ nào đó. Chúng ta được tự do tìm hiểu. Và nếu chúng ta đồng ý, chúng ta thử xếp đặt lại thứ tự 3 bài đọc như sau để có một phương hướng suy nghĩ. Trước hết bài Phúc âm gợi lên vinh dự của hai thánh Tông đồ được đặt làm rường cột cho Hội Thánh Chúa, rồi bài sách Công vụ cho chúng ta thấy các ngài được bảo hộ mạnh mẽ như thế nào khi thi hành sứ vụ; và cuối cùng bài Thánh thư kêu gọi chúng ta hết thảy hãy tin tưởng phấn đấu như các ngài đã hy sinh không mỏi mệt.
Bài Tin Mừng chỉ nói đến vinh dự đặc biệt đã được dành cho Phêrô. Nhưng vinh dự ấy một ngày kia cũng sẽ được trao tặng Phaolô qua lời Chúa phán với Hananya: Hãy đi tìm Saulô, vì nó là lợi khí Ta chọn để mang Danh Ta ra trước mặt các dân ngoại. Và Hananya đã ra đi làm theo lệnh Chúa, vì ông hiểu Phaolô đã được đặc cách, như Phêrô và các Tông đồ trước đây.
Phêrô hôm ấy cùng đi theo Chúa với đồng bạn… Cuộc truyền giáo của Chúa ở Galilê đã sửa soạn hoàn tất. Ngài sắp phải qua Yuđê để chịu thương khó. Ngài ý thức mọi sự và mọi việc. Ðể đánh dấu khúc quanh lịch sử quan trọng này, Chúa Yêsu đột xuất qua hỏi môn đệ: Người ta nói Con Người là ai? Ngài muốn đo kết quả của 3 năm truyền giáo. Ngài muốn biết môn đệ đã hiểu Ngài đến mức nào?
Người thì bảo Ngài là Yoan Tẩy giả; kẻ lại nói Ngài là Êlya; nhiều người khác nữa thì tưởng Ngài là Yêrêmya hay một tiên tri nào đó. Như vậy chung chung thiên hạ đã lờ mờ nghĩ rằng Ngài là Thiên sai cứu thế vì dư luận Dothái thời đó cho rằng các vị tiên tri như thế sẽ trở lại trong thời Ðấng Thiên sai và có thể một trong những vị đó sẽ chính là Ðấng muôn dân trông đợi. Ở đây chúng ta chỉ chú ý điều này: một mình sách Tin Mừng Matthêô nhắc đến tên tiên tri Yêrêmya, có lẽ muốn ngầm nói rằng: Ðấng Thiên sai sẽ đau khổ và bị bắt bớ như nhà Tiên tri đã có cuộc đời gian nan khổ sở, mà Chúa nhật XII Thường niên chúng ta đã nghe nói. Dù sao phần đông người ta vẫn chưa dám khẳng định dứt khoát Ðức Yêsu Kitô là ai.
Cầu Nguyện
Đời sống
Giáo lý
Kinh Thánh
Phục Sinh
Truyền Thông